Emily Ashford, Trưởng bộ phận nghiên cứu năng lượng tại Standard Chartered cho biết: “Giá dầu đang được hỗ trợ bởi sự lạc quan thận trọng xoay quanh biên bản ghi nhớ về thoả thuận hoà bình, nhưng quá trình khôi phục nguồn cung vật chất sẽ diễn ra chậm hơn nhiều so với phản ứng của giá hàng hóa”.
Từ ngày 27/2 đến ngày 29/4, giá dầu Brent đã tăng vọt 38,6% từ 72,48 USD lên 118,03 USD/thùng. Sau đó, giá đã giảm mạnh tới 33,1% xuống còn 78,96 USD vào ngày 16/6.
Sim Moh Siong, chiến lược gia hàng hóa tại OCBC cho rằng giá dầu Brent có thể giảm mạnh trong thời gian ngắn sau khi dòng chảy qua eo biển Hormuz được nối lại. Tuy nhiên, ông vẫn dự đoán giá dầu sẽ duy trì ở mức khoảng 80 USD/thùng, ngay cả đến cuối năm, với khả năng giá dầu nghiêng về phía cao hơn.
Xavier Tang, nhà phân tích thị trường cấp cao tại Vortexa cho biết nếu eo biển Hormuz mở cửa hoàn toàn – một kịch bản khó xảy ra trong thời gian ngắn – thị trường dầu mỏ có thể sẽ đối mặt với tình trạng dư cung, điều này có thể đẩy giá xuống mức trước xung đột là 60 đến 70 USD/thùng.
Những trở ngại trong việc khôi phục nguồn cung từ vùng Vịnh
Mặc dù thị trường hiện đang dự báo khả năng dòng chảy qua eo biển Hormuz sẽ trở lại bình thường, các nhà quan sát cảnh báo rằng việc nối lại hoạt động vận chuyển qua điểm nghẽn quan trọng này sẽ không dễ dàng. Chủ tàu, công ty bảo hiểm, người thuê tàu và nhà điều hành cảng trước hết phải tin rằng rủi ro vận chuyển là có thể kiểm soát được.
Hơn nữa, việc rà phá thủy lôi trong eo biển có thể mất nhiều tuần và ước tính việc khôi phục hoàn toàn dòng chảy sẽ mất khoảng 6 tháng.
Wang Zhuwei, Giám đốc nghiên cứu giao dịch dầu mỏ toàn cầu tại S&P Global cho biết: “Thị trường luôn đánh giá thấp sự cản trở hoạt động sau một sự gián đoạn lớn. Khôi phục dòng chảy không chỉ đơn thuần là mở lại một tuyến đường thủy…Khôi phục 50% dòng chảy đầu tiên dễ dàng hơn nhiều so với việc khôi phục 50% cuối cùng, vì liên quan đến giai đoạn dài của việc bình thường hóa bảo hiểm, tắc nghẽn lịch trình và sự sẵn lòng của thủy thủ đoàn”.
Nhà phân tích Xavier Tang dự đoán rằng một khi các rủi ro tiềm ẩn được giảm thiểu, lượng dầu vận chuyển qua eo biển sẽ tăng dần trong vài tháng tới, có khả năng khôi phục 70% đến 80% lượng dầu chảy qua eo biển vào cuối tháng 9.
Tuy nhiên, các nhà sản xuất dầu sẽ cần 3 đến 4 tháng để khôi phục phần lớn sản lượng dầu, và sự chậm trễ trong việc khôi phục niềm tin của các chủ tàu sẽ có tác động dây chuyền đến việc nối lại hoàn toàn dòng chảy dầu.
Sau khi dòng chảy qua eo biển được nối lại, thách thức tiếp theo nằm ở việc đưa nguồn cung từ vùng Vịnh trở lại thị trường.
StanChart cho rằng không phải mọi thùng dầu bị mất khỏi thị trường đều có mức độ ảnh hưởng như nhau. Một phần chỉ bị gián đoạn tạm thời do các nút thắt vận chuyển và xuất khẩu, trong khi một phần khác có thể bị mất lâu dài nếu cơ sở hạ tầng hoặc các mỏ dầu chịu thiệt hại nghiêm trọng. Ngoài ra, còn có nhóm giếng dầu tạm ngừng hoạt động nhưng vẫn có khả năng được đưa trở lại khai thác sau khi hoàn tất các biện pháp kỹ thuật cần thiết.
Bà Ashford dự đoán 30% đến 40% lượng cung bị mất sẽ được khôi phục trong vài tuần đầu tiên sau khi eo biển được xem là an toàn cho việc vận chuyển, và con số này sẽ tăng lên 80% đến 90% trong vòng một năm. Có thể mất vài tháng, thậm chí vài năm, để khôi phục 10 đến 20% còn lại; một phần nhỏ có thể phải đối mặt với tình trạng suy giảm dài hạn do sự xuống cấp của hồ chứa hoặc các yếu tố kinh tế.
Các yếu tố dài hạn ảnh hưởng đến nhu cầu khi nguồn cung phục hồi
Về mặt nhu cầu, dữ liệu từ Trung Quốc cho thấy nhập khẩu dầu thô của nước này trong tháng 5 đã giảm 29% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 7,8 triệu thùng/ngày, mức thấp nhất trong tám năm.
| |
Nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc. |
Các chuyên gia thị trường cho biết trong thời gian xung đột diễn ra, các nhà máy lọc dầu của Trung Quốc đã cắt giảm công suất hoạt động, sử dụng lượng tồn kho sẵn có và phải đối mặt với biên lợi nhuận lọc dầu suy yếu.
"Nếu giá dầu tiếp tục giảm xuống dưới 70 USD/thùng, nhu cầu dầu của Trung Quốc sẽ phục hồi, kéo theo sự trở lại của hoạt động mua dầu thô”, nhà phân tích Xavier Tang cho biết.
Trong khi đó, S&P Global cho rằng sự phục hồi của nguồn cung dầu Trung Đông chưa chắc sẽ kéo theo sự gia tăng tương ứng trong nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc. Trong bối cảnh tồn kho vẫn ở mức tương đối dồi dào, Trung Quốc có thể tiếp tục chờ đợi mức giá thuận lợi hơn trước khi đẩy mạnh mua vào. Điều này đồng nghĩa việc nguồn cung quay trở lại thị trường chủ yếu làm giảm phần bù rủi ro địa chính trị trong giá dầu, thay vì tạo thêm động lực cho nhu cầu tiêu thụ. Bên cạnh đó là xu hướng đang làm giảm thêm nhu cầu tiêu thụ dầu thô của Trung Quốc: sự bùng nổ nhu cầu về xe điện tại nước này.
Về phía nguồn cung, mặc dù lượng dầu vận chuyển qua eo biển Hormuz đã giảm mạnh trong vài tháng qua, các nhà phân tích lưu ý rằng các nhà cung cấp dầu thô ở Mỹ và Canada đã cung cấp nhiều thùng dầu hơn ra thị trường.
| |
Xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm tinh chế của Mỹ |
Sau khi dòng chảy dầu qua eo biển Hormuz được nối lại, các nhà phân tích dự đoán nhu cầu sẽ đến từ các quốc gia đang tìm cách tăng lượng dầu dự trữ chiến lược.
“Chúng tôi cũng dự đoán sẽ có sự mở rộng rộng hơn về dự trữ chiến lược toàn cầu sau cuộc xung đột, khi nhiều quốc gia tiêu thụ tìm cách tăng cường các vùng đệm an ninh năng lượng”, bà Emily Ashford cho biết.
Tuy nhiên, ngay cả khi vẫn còn những lo ngại về việc nối lại nguồn cung qua eo biển Hormuz, sự không chắc chắn về mức độ nhu cầu cũng khiến việc dự đoán hướng đi của giá dầu trong tương lai trở nên khó khăn.