Ngành sản xuất của Việt Nam cải thiện tháng thứ 10 liên tiếp, sản lượng vẫn duy trì đà tăng

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Các điều kiện kinh doanh tổng thể của ngành sản xuất Việt Nam cải thiện tháng thứ 10 liên tiếp, mặc dù mức độ cải thiện chỉ là nhỏ.
Ngành sản xuất của Việt Nam cải thiện tháng thứ 10 liên tiếp, sản lượng vẫn duy trì đà tăng

Chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI®) ngành sản xuất Việt Nam của S&P Global đã giảm xuống mức thấp của 7 tháng là 50,5 điểm trong tháng 4, so với 51,2 điểm của tháng 3. Kết quả chỉ số cho thấy các điều kiện kinh doanh tổng thể của ngành sản xuất đã cải thiện tháng thứ 10 liên tiếp, mặc dù mức độ cải thiện chỉ là nhỏ.

Nhân tố giúp giữ chỉ số toàn phần duy trì ở vùng tăng trưởng trong tháng 4 là sản lượng vẫn duy trì đà tăng. Cụ thể, sản lượng đã tăng tháng thứ 12 liên tiếp, phản ánh việc thực hiện các dự án hiện có và khả năng duy trì của nhu cầu cơ bản. Tuy nhiên, tốc độ tăng là chậm nhất kể từ tháng 6/2025, trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng, nguồn cung khan hiếm và thị trường bất ổn do cuộc chiến tranh ở Trung Đông.

Trong khi sản lượng tiếp tục tăng, các kết quả khác của khảo sát vẽ một bức tranh ảm đạm hơn về các điều kiện kinh doanh của ngành sản xuất trong tháng 4.

Số lượng đơn đặt hàng mới giảm lần đầu trong tám tháng, khi giá cả tăng đã ảnh hưởng tới khả năng có được đơn đặt hàng mới của các công ty.

Sức ảnh hưởng này thậm chí còn rõ hơn đối với số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới, một chỉ số cũng chịu ảnh hưởng của chi phí vận tải tăng. Số lượng đơn đặt hàng mới từ nước ngoài giảm đáng kể tháng thứ hai liên tiếp.

Có nhiều báo cáo cho thấy chi phí nhiên liệu và dầu tăng trong tháng 4, đồng thời cước phí vận tải tăng cũng được nhắc đến. Kết quả là, chi phí đầu vào đã tăng nhanh và tốc độ tăng tiếp tục gia tăng, lên mức nhanh nhất trong 15 năm. Hơn một nửa số người trả lời khảo sát cho biết giá đầu vào đã tăng trong tháng.

Để bù đắp, giá cả đầu ra cũng tăng mạnh, đồng thời tốc độ tăng giá là nhanh nhất kể từ tháng 4/2011. Với số lượng đơn đặt hàng mới giảm, các nhà sản xuất đã giảm nhân lực, thông qua cả việc giảm số lượng nhân viên và giảm số giờ lao động. Một số công ty cũng báo cáo tình trạng nhân viên nghỉ việc. Số lượng nhân viên đã giảm tháng thứ hai liên tiếp.

Sau khi tăng nhẹ trong tháng 3, lượng công việc tồn đọng giảm lần thứ tư trong năm tháng trong tháng 4, và tốc độ giảm là nhanh nhất kể từ tháng 9 năm ngoái. Các công ty cũng giảm hoạt động mua hàng và hàng tồn kho vào thời điểm đầu quý II.

Hoạt động mua hàng hóa đầu vào giảm do số lượng đơn đặt hàng mới giảm. Tuy nhiên, việc mua hàng trước của một số nhà sản xuất nhằm cố gắng giảm thiểu những khó khăn về giá cả và nguồn cung đã khiến tốc độ giảm mua hàng chỉ là nhẹ và yếu hơn so với tháng 3.

Trong khi đó, tốc độ giảm tồn kho, cả hàng mua và hàng thành phẩm, đều tăng.

Những vấn đề liên quan đến chi phí và khả năng vận chuyển, cũng như tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu, đã khiến thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài trong tháng 4. Hơn nữa, hiệu suất hoạt động của nhà cung cấp đã suy giảm với mức độ lớn nhất trong bốn năm rưỡi.

Những lo ngại về ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Trung Đông đã khiến tâm lý lạc quan của các nhà sản xuất Việt Nam tiếp tục giảm. Tâm lý kinh doanh đã giảm xuống mức thấp của bảy tháng và thấp hơn mức trung bình của lịch sử chỉ số.

Tuy nhiên, các công ty tiếp tục dự báo sản lượng sẽ tăng trong năm tới, nhờ kỳ vọng vào việc phục hồi số lượng đơn đặt hàng mới và môi trường thị trường ổn định hơn.

Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence bình luận thêm, mặc dù sản lượng tiếp tục tăng trong kỳ khảo sát lần này, tốc độ tăng đã chậm lại thành mức thấp, và với số lượng đơn đặt hàng mới giảm về vùng suy thoái, có vẻ như sản lượng sẽ giảm theo trong những tháng tới, trừ khi môi trường giá cả và nguồn cung sẽ cải thiện sớm.

Hồng Ân

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục