Ngành công nghiệp UAV Việt Nam: Điểm bắt đầu từ tư duy cân bằng

0:00 / 0:00
0:00
Làm thế nào để có ngành công nghiệp UAV nội địa, nếu doanh nghiệp Việt đang phải hỏi “bắt đầu từ đâu”.
Thị trường drone, UAV khan hàng do việc siết chặt điều kiện nhập khẩu. Ảnh: Đức Thanh Thị trường drone, UAV khan hàng do việc siết chặt điều kiện nhập khẩu. Ảnh: Đức Thanh

Doanh nghiệp rất sốt ruột

“Chúng tôi đã đi hỏi nhiều cơ quan liên quan, đã đề xuất, kiến nghị được hướng dẫn thực thi, nhưng vẫn đang đợi câu trả lời. Điều doanh nghiệp cần nhất lúc này là đầu mối của cơ quan quản lý đào tạo, hướng dẫn và tiếp nhận các câu hỏi, vướng mắc”, ông Trần Anh Tuấn, Nhà sáng lập, kiêm Giám đốc điều hành Saolatek sốt ruột chia sẻ.

Suốt từ cuối năm ngoái, kể từ thời điểm tháng 11, khi Nghị định 288/2025/NĐ-CP quy định về quản lý tàu bay không người lái và phương tiện bay khác được ban hành đến giờ, hoạt động của Saolatek thực sự khó khăn. Ông Tuấn kể, khó từ thủ tục xin cấp phép nhập khẩu thiết bị, linh kiện phục vụ nghiên cứu, sản xuất đến các thủ tục cấp chứng nhận CO-CQ.

“Chúng tôi đã nộp hồ sơ trực tuyến theo hướng dẫn nhưng không được phản hồi, gửi qua đường bưu điện cũng chưa thấy thông tin. Là doanh nghiệp nghiên cứu phát triển, chúng tôi không thể mua hàng trôi nổi không có hóa đơn. Nhu cầu nhập khẩu nhiều khi lặt nhặt, mỗi đơn hàng chỉ khoảng 100-200 triệu đồng, nên phải làm nhiều hồ sơ, với chi phí không hề nhỏ…”, ông Tuấn làm rõ.

Trước đây, các đơn vị nhập khẩu thường chỉ cần khai báo đơn giản, nhưng theo Nghị định 288/2025/NĐ-CP, thiết bị nhập khẩu bắt buộc phải có giấy phép nhập khẩu và tờ khai hải quan chính ngạch. Vấn đề là, quy trình 6 bước được quy định tại các điều 5, 6, 7 của Nghị định 288/2025/NĐ-CP không dễ tuân thủ và càng không dễ định lượng được thời gian hoàn thành.

Hệ quả là tình trạng thị trường drone, UAV khan hàng, gồm cả máy bay nông nghiệp đến các phương tiện bay không người lái phục vụ giảng dạy của các trường đại học, phòng nghiên cứu…

Nhưng khó khăn không chỉ ở việc siết chặt điều kiện nhập khẩu. Nhiều phương tiện được nhập khẩu, sản xuất trước đó đang rơi vào tình thế không đủ điều kiện lưu hành do các quy định mới được ban hành. Ví dụ, yêu cầu mọi máy bay nông nghiệp (thường nặng từ 10 kg đến hơn 150 kg, thuộc loại 3 và loại 4 theo phân loại mới) phải có giấy chứng nhận đăng ký mới được phép lưu hành. Nhưng các lô hàng cũ lại thiếu hóa đơn đỏ hoặc chứng từ nguồn gốc, khiến nhiều máy bay “nằm kho” vì không thể hợp thức hóa. Tương tự, nhiều dòng drone cũ hoặc linh kiện tự lắp ráp không đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn mới, dẫn đến việc bị loại bỏ khỏi thị trường.

Cùng với đó, quy định chỉ những doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện về cơ sở vật chất, nhân sự và được cấp phép mới được kinh doanh drone cũng đang khiến nhiều cơ sở đang hoạt động phải đóng cửa, để chuẩn bị các điều kiện theo yêu cầu mới.

Theo ông Tuấn, nếu thuận lợi, người dân hoặc các đội bay dịch vụ phải chờ từ 1-3 tháng mới nhận được máy vì quy trình kiểm định và cấp mã định danh cho thiết bị tốn nhiều thời gian. Nhưng việc vận hành không thể thông thoáng ngay, thậm chí nhiều phương tiện rơi vào tình trạng “treo máy” vì nhiều phi công tự do chưa có giấy phép điều khiển hạng B (dành cho drone trên 2 kg hoặc bay tự động) theo quy định mới…

Cơ hội nào cho ngành công nghiệp UAV nội địa

Cũng phải nói thêm, ông Tuấn đang là Phó chủ tịch thường trực, kiêm Giám đốc điều hành Mạng lưới Công nghệ Hàng không - Vũ trụ và Thiết bị bay không người lái Việt Nam (AUVS Việt Nam), nơi tập hợp các doanh nghiệp có tham vọng hiện thực hóa chiến lược “Make in Vietnam” trong các ngành công nghệ lõi phát triển, sẵn sàng đầu tư và tham gia chuỗi giá trị UAV.

Thậm chí, AUVS Việt Nam đã xác định sứ mệnh kiến tạo tương lai kinh tế tầm thấp tại Việt Nam, với tầm nhìn 2035 đạt 5 tỷ USD và đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ hàng không - vũ trụ và thiết bị bay không người lái khu vực ASEAN...

Nhiều kế hoạch đã được các doanh nghiệp xây dựng, với nhiều tham vọng, như ký kết hợp tác với chính quyền các địa phương, các khu công nghệ cao, các trường đại học trong nước, quốc tế; tăng cường hợp tác quốc tế, như ký kết với Hiệp hội UAV Nhật Bản (JUIDA)…, mở ra hướng phát triển mới trong lĩnh vực giao thông vận tải thế hệ mới, đặc biệt là các ứng dụng UAV, drone và hệ sinh thái công nghệ liên quan.

Đặc biệt, các doanh nghiệp đã gửi đi nhiều kiến nghị chính sách, mong muốn được hỗ trợ nguồn lực để đầu tư, phát triển công nghệ, nhanh chóng tiếp cận được không gian phát triển mới. Cơ hội đang rất lớn khi Mỹ và các nước đồng minh bắt đầu hạn chế nhập khẩu UAV và linh kiện từ Trung Quốc.

“Nhưng 3 năm nay, chúng tôi chỉ ước có được đủ điều kiện để xuất khẩu sản phẩm của mình. Các quy định về cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) đang rất cực. Doanh nghiệp không bán được hàng, không chỉ là xuất khẩu, mà còn không bán được cho các phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm của các trường học, thì cạnh tranh thế nào?”, ông Tuấn trăn trở.

Tình trạng trên đã được các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp gửi tới Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ qua báo cáo hàng tháng của Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV). Trong báo cáo tháng 3 gửi Thủ tướng, Ban IV đã dành riêng một mục để lý giải cho nhận định rằng, Việt Nam hiện vẫn thiếu một khung pháp lý đồng bộ cho lĩnh vực UAV.

Đáng nói là, các khoảng trống pháp lý đang khá rộng, gồm chưa có cơ chế sandbox thử nghiệm; chưa có quy định và hạ tầng test site; thiếu tiêu chuẩn sản xuất quốc gia; chưa có quy trình kiểm thử - kiểm định UAV; khoảng trống về đào tạo và sát hạch phi công; chưa có tiêu chí “drone Made in Vietnam” để cấp C/O xuất khẩu và không có hệ thống quản lý dữ liệu bay (UTM quốc gia) để kiểm soát an ninh.

“Những khoảng trống này đang cản trở đổi mới sáng tạo, hạn chế sự phát triển của ngành công nghiệp UAV trong nước, đồng thời tiềm ẩn rủi ro về an toàn - an ninh quốc gia”, Ban IV giải trình với Thủ tướng Chính phủ trong báo cáo do ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Tập đoàn FPT, Trưởng ban IV ký trình.

Điểm bắt đầu từ tư duy cân bằng

Thời điểm này, doanh nghiệp đang rất mong được hoạt động một cách hợp pháp, đúng quy định. Mong muốn này của cộng đồng kinh doanh đã được Ban IV gửi tới người đứng đầu Chính phủ.

Cụ thể, gửi tới Thủ tướng Chính phủ, Ban IV đề xuất rà soát các dự thảo và văn bản hướng dẫn theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và không gian phát triển các lĩnh vực mới của doanh nghiệp; đẩy mạnh hậu kiểm hoặc cho phép các khoảng thời gian cố định để doanh nghiệp thử nghiệm, thích nghi và ứng dụng thành thạo các công nghệ mới trước khi áp dụng các biện pháp kiểm tra chặt.

Cụ thể hơn với các lĩnh vực công nghệ mới và công nghệ chiến lược như kinh tế tầm thấp, Ban IV đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét chỉ đạo các bộ, ngành liên quan hoàn thiện các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), hoàn thiện quy định về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình quản lý phù hợp để công bố và áp dụng.

Đồng thời, nghiên cứu rà soát các thủ tục liên quan đến thử nghiệm, sản xuất và nhập khẩu linh kiện, thiết bị theo hướng minh bạch, thống nhất và giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết.

Có thể thấy, mục tiêu cuối cùng của tất cả các hoạt động này là tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp công nghệ mới, lưỡng dụng. Đặc biệt, các doanh nghiệp kỳ vọng tư duy chính sách này cần đặt trong bối cảnh được nhận định là các ngành này tại Việt Nam “có cơ hội cạnh tranh quốc gia”, để có sự ưu tiên về tốc độ, thời gian.

Quy trình xin nhập khẩu các thiết bị linh kiện UAV

Bước 1: Các doanh nghiệp nhập khẩu phải gửi hồ sơ đề nghị cấp phép nhập khẩu tại UBND cấp tỉnh với rất nhiều giấy tờ, như văn bản đề nghị cấp phép cho tổ chức cá nhân, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phương tiện bay; hình ảnh tổng quan và ảnh ký hiệu, số xuất xưởng của phương tiện bay; bảng thông số kỹ thuật của phương tiện bay do nhà sản xuất cung cấp; danh mục các trang bị, thiết bị riêng lẻ cấu thành phương tiện bay; hồ sơ hoặc tài liệu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của phương tiện bay, trừ trường hợp tạm xuất tái nhập…

Bước 2: UBND cấp tỉnh chuyển hồ sơ sang Sở Công thương làm đầu mối giải quyết thủ tục xin nhập khẩu

Bước 3: Sở Công thương gửi Bộ Công an và Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Bộ Tổng tham mưu (Bộ Quốc phòng)

Bước 4: Khi có đủ câu trả lời của cả hai bộ thì Ban chỉ huy quân sự thành phố xét điều kiện kinh doanh và ở khâu này, Ban chỉ quy quân sự sẽ lại gửi công an tỉnh/thành phố xác minh xem doanh nghiệp có vướng, vi phạm gì không.

Bước 5: Ban chỉ huy quân sự thành phố phản hồi lại Sở Công thương, sau đó Sở Công thương sẽ cấp giấy phép nhập khẩu.

Bước 6: Doanh nghiệp sử dụng giấy phép nhập khẩu kèm giấy phép của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng cùng giấy đo kiểm tần số và chất lượng của Bộ Khoa học và Công nghệ để đi làm nhập khẩu với cơ quan hải quan.

Nguồn: Tổng hợp của Ban IV gửi Thủ tướng Chính phủ

Khánh An
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục