EVFTA mang lại nhiều kết quả tích cực sau hơn 6 năm thực thi
Bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công thương) nhấn mạnh điều này khi đánh giá về 6 năm thực thi EVFTA.
Đến nay, Việt Nam đã ký kết 18 FTA, trong đó có 17 FTA đang có hiệu lực, EVFTA là một trong các FTA thế hệ mới có hiệu quả thực thi tích cực nhất, được thể hiện qua cả tăng trưởng thương mại và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ EU vào Việt Nam.
Dẫn số liệu thống kê từ Bộ Tài chính, bà Hiền cho biết, trước năm 2020 (thời điểm chưa có EVFTA), tổng FDI từ EU vào Việt Nam đạt khoảng 22,17 tỷ USD, đến năm 2025, con số này tăng lên 32,7 tỷ USD, tương đương mức tăng khoảng 44%.
Nguồn vốn đầu tư từ các quốc gia thành viên EU không chỉ bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để Việt Nam tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và gia tăng hàm lượng chế biến trong sản phẩm.
Tác động tích cực của EVFTA còn nhìn thấy rõ hơn qua trao đổi thương mại song phương.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), trong 6 năm thực thi EVFTA, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và EU đã đạt gần 400 tỷ USD - chiếm gần một nửa tổng kim ngạch thương mại 900 tỷ USD kể từ năm 1995.
Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Trong 10 tháng, kim ngạch thương mại Việt Nam – EU đạt 74 tỷ USD, vượt mức 73,8 tỷ USD của cả năm 2025. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang EU đạt 57,42 tỷ USD, tăng 23,3%; nhập khẩu từ EU đạt 16,58 tỷ USD, tăng 15,3%.
Đáng chú ý, thặng dư thương mại của Việt Nam với EU đạt khoảng 40,8 tỷ USD, gần gấp đôi mức 21,7 tỷ USD của cả năm 2019, thời điểm trước khi EVFTA có hiệu lực.
Cùng với tăng trưởng kim ngạch, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai bên cũng thay đổi đáng kể. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như hàng tiêu dùng, máy tính, linh kiện điện tử, dệt may, da giày tiếp tục giữ vai trò quan trọng.
Một số nhóm hàng có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là nông sản, thực phẩm chế biến, dịch vụ và phần mềm, đang gia tăng.
Hàm lượng chế biến trong sản phẩm sản xuất tại Việt Nam cũng tăng dần qua các năm, một phần nhờ nguồn vốn đầu tư và công nghệ từ EU. Sản phẩm sản xuất tại Việt Nam không chỉ phục vụ thị trường EU mà còn có khả năng tiếp cận các thị trường khác mà Việt Nam đã ký kết FTA.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam tăng nhập khẩu từ EU các loại máy móc, thiết bị, dược phẩm. 6 năm thực thi EVFTA, nhập khẩu từ EU ước trên 80 tỷ USD.
Việc gia tăng hấp thụ các công nghệ, máy móc từ EU không chỉ giúp cân bằng bền vững cán cân thương mại song phương, mà còn đóng vai trò là bệ phóng giúp gia tăng năng lực cạnh tranh dài hạn của các doanh nghiệp.
Nâng thị phần hàng Việt tại EU lên 3,5%
Bước sang năm thứ 7 thực thi EVFTA, Việt Nam được hưởng quyền miễn thuế đối với 99% số dòng thuế. Việc xóa bỏ thuế quan toàn diện này củng cố vị thế của Việt Nam là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của châu Âu tại ASEAN.
Đánh giá triển vọng thương mại song phương, bà Nguyễn Thảo Hiền cho rằng, EU tiếp tục là đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam, tuy nhiên, những lợi thế nhờ có FTA với khối này đang dần giảm đi khi EU tăng cường đàm phán và ký kết FTA với nhiều thị trường trong ASEAN và châu Á.
"Động lực cạnh tranh với hàng Việt xuất khẩu trong thời gian tới sẽ không quá nghiêng về thuế quan mà sẽ là năng lực thực chất, thông qua sản xuất xanh, bền vững, tăng khả năng chống chịu và thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường, gia tăng hàng rào phi thuế quan, EU gia tăng điều tra chống bán phá giá ", bà Hiền nói.
Dư địa cho hàng xuất khẩu còn lớn, bởi tính đến nay hàng Việt tại EU mới chiếm khoảng 2,5% thị phần, mục tiêu đến 2030 nâng lên khoảng 3,5%, đại diện Bộ Công thương cho hay.
Trước những thay đổi của thị trường EU, yêu cầu đặt ra không chỉ là tận dụng tốt nhất ưu đãi thuế quan từ FTA song phương, mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ là "chìa khóa" để thương mại bền vững.
Bộ Công thương đã xây dựng chương trình hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp khai thác sâu hơn thị trường EU, mở rộng xuất khẩu và tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng.
"Với các doanh nghiệp, để khai thác mạnh thị trường EU, năng lực cạnh tranh thực chất là yêu cầu sống còn. Bộ sẽ hỗ trợ về mở cửa thị trường, bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, mục đích là giúp các doanh nghiệp, ngành hàng tăng được năng lực chống chịu và khả năng thích nghi với sự thay đổi nhanh của thị trường", bà Hiền nói.
Dẫn chứng về những tác động từ biến động địa chính trị, giá năng lượng tăng cao và thị trường thu hẹp, bà Hiền cho rằng không phải doanh nghiệp nào cũng đủ sức chống đỡ. Trong bối cảnh đó, sự hỗ trợ của Chính phủ cùng năng lực tự thích ứng, chống chịu của doanh nghiệp sẽ là yếu tố quan trọng giúp duy trì hoạt động và trụ vững trước biến động.