Môi trường kinh doanh: Những tín hiệu mới từ cấp thực thi

(ĐTCK) Sức ép tăng trưởng đang đặt ra yêu cầu mới đối với chính quyền địa phương: không chỉ ban hành và thực hiện đúng quy định, mà phải chủ động phát hiện điểm nghẽn, tháo gỡ vướng mắc và rút ngắn con đường từ chính sách đến một dự án đầu tư thực tế.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI (bên phải), ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế - Tài chính Quốc hội (giữa), TS. Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế (bên trái) Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI (bên phải), ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế - Tài chính Quốc hội (giữa), TS. Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế (bên trái)

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI kể lại câu chuyện về một người bạn là doanh nghiệp không lớn. Người chủ doanh nghiệp này bất ngờ khi nhận được cuộc gọi từ lãnh đạo địa phương hỏi thăm về ý định đầu tư mà trước đây doanh nghiệp từng dự kiến.

“Trước đây thường là nhà đầu tư phải tìm đến Bí thư, Chủ tịch để hỏi thăm, để xin thủ tục. Nhưng hiện nay thì chúng tôi đã nhìn thấy các địa phương đang chủ động liên hệ với doanh nghiệp, nhà đầu tư”, ông Tuấn nói.

Theo ông Tuấn, đây là một biểu hiện cụ thể của sự chuyển trạng thái từ chính quyền thực hiện thủ tục sang chính quyền kiến tạo, thúc đẩy phát triển. Trong bối cảnh sức ép tăng trưởng ngày càng lớn, địa phương muốn thu hút đầu tư phải giúp nhà đầu tư rót vốn vào dự án, hoàn thành thủ tục nhanh hơn và đưa dự án vào hoạt động sớm hơn.

Nhưng từ một cuộc gọi chủ động của lãnh đạo địa phương đến một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi vẫn còn một khoảng cách. Khoảng cách đó nằm ở cách chính sách được thực thi, cách chính quyền xử lý những vướng mắc cụ thể và khả năng biến những thay đổi về thể chế thành kết quả mà doanh nghiệp có thể cảm nhận được.

Đây là vấn đề được đặt ra tại phiên thảo luận “Quản trị thay đổi và thực thi để tạo sức bật tăng trưởng”, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế mới Việt Nam lần thứ 4 năm 2026 với chủ đề “Chính sách đột phá và sức bật của địa phương, doanh nghiệp”.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban Pháp chế VCCI

Từ “làm luật” đến thực thi

Nhìn từ phía doanh nghiệp, tốc độ thay đổi của hệ thống pháp luật thời gian qua là rất lớn. Ông Đậu Anh Tuấn cho biết, năm 2025 Quốc hội đã ban hành 89 luật. Đây thực sự là một khối lượng lập pháp rất lớn; theo số liệu chính thức của Quốc hội, trong năm 2025 Quốc hội đã thông qua 89 luật và 91 nghị quyết.

Theo ông Tuấn, nếu trước đây việc ban hành một đạo luật có thể mất khoảng hai năm thì hiện nay thời gian bình quân đã được rút ngắn xuống khoảng 126 ngày. Cùng với tốc độ xây dựng pháp luật, cách thức xử lý các vướng mắc phát sinh từ thực tiễn cũng đang thay đổi.

Từ góc độ lập pháp, ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế - Tài chính Quốc hội lý giải rằng, một trong những điểm nghẽn trước đây nằm ở khâu thể chế hóa các chủ trương còn chậm, chưa đầy đủ hoặc chưa sát tinh thần. Yêu cầu đặt ra hiện nay là các nghị quyết phải được thể chế hóa kịp thời, nhanh, đầy đủ và đúng.

Một ví dụ được ông Hiếu nhắc đến là Nghị quyết 198 được xây dựng trong thời gian rất ngắn, chỉ 12 ngày đêm. Cùng với đó, Quốc hội đã sử dụng những cơ chế mới để xử lý các dự án gặp khó khăn, vướng mắc pháp lý kéo dài.

Đáng chú ý là Nghị quyết 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Theo Nghị quyết này, Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sử dụng cơ chế đặc biệt để kịp thời xử lý một số vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật, thay vì phải chờ sửa từng luật. Nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 28/2/2027.

Ông Hiếu nói: “Đây là một cách tiếp cận “shortcut”, nhằm rút ngắn thời gian xử lý những điểm nghẽn pháp lý thay vì chờ sửa đổi từng đạo luật”.

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế - Tài chính Quốc hội

Ông Phan Đức Hiếu, Ủy ban Kinh tế - Tài chính Quốc hội

Nhưng tốc độ lập pháp chỉ giải quyết được một phần của vấn đề. Phần còn lại nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Khảo sát PCI được ông Tuấn dẫn tại Diễn đàn cho thấy doanh nghiệp đã phần nào cảm nhận sự cải thiện trong thủ tục hành chính, đặc biệt khi nhiều thủ tục được thực hiện trực tuyến. Tuy nhiên, thủ tục hành chính vẫn là một điểm nghẽn khiến dòng vốn chưa thể chảy nhanh như kỳ vọng.

“Chính sách thì rất thông thoáng như vậy nhưng khi triển khai thực hiện thủ tục hành chính ở khá nhiều địa phương thì vẫn có một sự chậm trễ tương đối lớn”, ông Tuấn nói.

Một con số được ông Tuấn đưa ra cho thấy khoảng cách giữa ban hành và thực thi. Khảo sát của VCCI vào tháng 4/2026 cho thấy 82% nghị định được ban hành trễ sau khi luật đã có hiệu lực. Tuy nhiên, đến thời điểm diễn ra Diễn đàn, theo thông tin ông cập nhật từ phiên họp của Chính phủ, tình trạng văn bản nợ đọng đã được xử lý. Như vậy, tốc độ ban hành chính sách và tốc độ đưa chính sách vào cuộc sống là hai bài toán khác nhau.

Theo ông Tuấn, trong hệ thống chỉ số PCI, khoảng cách giữa các địa phương về chi phí tuân thủ thủ tục hành chính không quá lớn. Nhưng ở những chỉ số khó hơn, chẳng hạn năng lực chính quyền kiến tạo, điểm bình quân còn thấp và khoảng cách giữa các tỉnh, thành phố khá xa.

Một điểm khác cũng cần tính đến là độ trễ của cải cách. Theo phân tích từ báo cáo PCI được ông Tuấn dẫn, tác động của những cải cách thể chế đối với sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân thường có độ trễ khoảng ba năm. Vì vậy, những thay đổi được thực hiện hôm nay cần thời gian để phản ánh đầy đủ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Địa phương phải chuyển từ thụ động sang chủ động

Nếu câu chuyện Bí thư, Chủ tịch tỉnh chủ động gọi cho doanh nghiệp là một tín hiệu của sự thay đổi, thì theo các diễn giả, thay đổi đó cần trở thành phương thức quản trị phổ biến hơn. Ông Phan Đức Hiếu cho rằng chính quyền địa phương cần chuyển từ thụ động giải quyết thủ tục sang chủ động quản trị, không chỉ chờ doanh nghiệp phát sinh vấn đề rồi mới xử lý.

Lấy ví dụ về quản lý nợ thuế, ông Hiếu cho rằng cơ quan quản lý đã có dữ liệu, vì vậy hoàn toàn có thể chủ động rà soát và thông tin cho doanh nghiệp trước khi doanh nghiệp phát sinh hậu quả, thay vì để doanh nghiệp đến sân bay hoặc đến một thời điểm giao dịch mới biết mình đang có vấn đề. “Chủ động phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp, không đợi doanh nghiệp bị vấn đề mới giải quyết”, ông Hiếu nói.

Theo ông Hiếu, chính quyền cũng không nên chỉ tập trung vào những vấn đề lớn mà bỏ qua các vướng mắc nhỏ trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lớn có thể không quá lo ngại trước những quy trình lớn, nhưng lại có thể chịu tác động đáng kể từ một thủ tục rất nhỏ. Chẳng hạn, một đơn hàng nhập nguyên vật liệu phục vụ dây chuyền sản xuất bị tắc ở một thủ tục hải quan. Vấn đề không lớn về quy mô, nhưng chỉ một sự chậm trễ cũng có thể tác động trực tiếp đến cả dây chuyền sản xuất.

“Rất mong địa phương ngoài chỉ đạo những vấn đề rất lớn thì tập trung vào giải quyết cả những vấn đề ‘li ti’ cho doanh nghiệp, khi đó mới thực sự khơi thông dòng nguồn lực”, ông Hiếu nói.

Toàn cảnh phiên Thảo luận

Toàn cảnh phiên Thảo luận

Một câu chuyện khác được ông Hiếu đưa ra lại liên quan đến khả năng tiếp cận chính sách. Ông Hiếu cho biết một lãnh đạo địa phương từng hỏi ông về việc chính quyền cần làm gì để giải quyết thực chất các vấn đề của doanh nghiệp. Trong khi đó, một doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội lại đặt câu hỏi: chính sách dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vào khu công nghiệp theo Nghị quyết 68 thì doanh nghiệp phải hỏi ai, tiếp cận với ai và làm thế nào để biết mình có thể tiếp cận chính sách đó?

Ông Hiếu nói: “Câu hỏi này cho thấy khoảng cách giữa “có chính sách” và “biết cách tiếp cận chính sách. Nếu đã có thông tin liên hệ của doanh nghiệp, địa phương có thể trực tiếp thông tin cho doanh nghiệp về chính sách, đầu mối tiếp nhận và cách thức tiếp cận. Cùng với đó, các thông tin về đất đai, cơ hội đầu tư và điều kiện tiếp cận cũng cần được công khai, công bằng và minh bạch”.

Như vậy, với chính quyền địa phương, yêu cầu không chỉ là thực hiện đúng quy trình mà còn phải biết doanh nghiệp đang vướng ở đâu, thông tin nào doanh nghiệp chưa biết và vấn đề nào có thể được xử lý trước khi trở thành một điểm nghẽn lớn.

Từ không khí phát triển đến hiệu quả tăng trưởng

Ông Đậu Anh Tuấn cho rằng điều doanh nghiệp cảm nhận được hiện nay là “không khí phát triển” đang mạnh lên tại nhiều địa phương. Sức ép tăng trưởng cao đang buộc các địa phương phải chủ động tìm kiếm nhà đầu tư, thúc đẩy dự án, rút ngắn thủ tục. Nhưng điều cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng là không khí đó phải được chuyển thành dự án cụ thể và hoạt động kinh doanh thuận lợi hơn.

Ở góc độ sử dụng nguồn lực, TS. Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế đặt ra một yêu cầu khác: khi lượng vốn dành cho tăng trưởng ngày càng lớn, vấn đề không chỉ là huy động thêm bao nhiêu vốn mà còn là hiệu quả của nguồn vốn đó. Giai đoạn 2011-2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 5,6 triệu tỷ đồng; giai đoạn tới nhu cầu lên khoảng 38 triệu tỷ đồng. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP cũng đã tăng từ khoảng 31% lên khoảng 40%.

“Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng hiệu quả sử dụng vốn thay vì chỉ tiếp tục mở rộng lượng vốn đầu vào”, ông Bình nói.

Một chỉ số được ông Bình sử dụng để nhìn vào hiệu quả này là ICOR - lượng vốn đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Trong giai đoạn Covid-19, ICOR có thời điểm lên 14-15, nghĩa là cần một lượng vốn đầu tư rất lớn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng. Khi nguồn lực ngày càng lớn, vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để mỗi đồng vốn tạo ra nhiều tăng trưởng hơn.

Dữ liệu ông Bình dẫn cho thấy năm 2025, TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai và Ninh Bình là 5 địa phương có lượng vốn đầu tư toàn xã hội lớn nhất, chiếm khoảng 45% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội của cả nước. Tuy nhiên, địa phương thu hút nhiều vốn không đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn cao nhất.

TS. Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế

TS. Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế

Theo ông Bình, Quảng Ninh, Phú Thọ và Bắc Ninh nằm trong nhóm sử dụng vốn hiệu quả hơn để tạo ra tăng trưởng cao. Ông đồng thời chỉ ra sự gắn kết giữa hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng điều hành PCI ở các địa phương.

Điều này đưa câu chuyện thực thi chính sách trở lại với bài toán tăng trưởng. Một địa phương có thể thu hút được lượng vốn lớn, nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực mới quyết định phần giá trị tăng trưởng tạo ra. Một chính sách có thể được ban hành nhanh, nhưng nếu thủ tục thực thi còn chậm, doanh nghiệp vẫn chưa thể biến chính sách thành đầu tư. Một cơ chế hỗ trợ có thể đã tồn tại, nhưng nếu doanh nghiệp không biết hỏi ai, tiếp cận ở đâu, nguồn lực vẫn chưa thực sự được khơi thông.

Từ câu chuyện lãnh đạo địa phương chủ động tìm đến doanh nghiệp, đến những thủ tục “li ti” có thể làm đình trệ một dây chuyền sản xuất, rồi bài toán ICOR và hiệu quả sử dụng vốn, phiên thảo luận cho thấy yêu cầu về quản trị đang được đặt ở một tầng khác: chính sách không chỉ cần được ban hành nhanh, mà phải đi được đến doanh nghiệp; nguồn lực không chỉ cần được huy động, mà phải được sử dụng hiệu quả.

Và khoảng cách từ một quyết sách đến một dự án đầu tư, từ một chính sách đến một doanh nghiệp biết cách tiếp cận, cuối cùng vẫn nằm ở khâu thực thi.

Nhuệ Mẫn

Tin cùng chuyên mục