Mô hình phát triển mới đưa Việt Nam thịnh vượng toàn diện

Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về Phát triển tổng thể đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sẽ định hình Mô hình phát triển tổng thể “Việt Nam - Quốc gia thịnh vượng toàn diện”.
Ông Lê Trung Hiếu, Phó cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính)

Theo ông Lê Trung Hiếu, Phó cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), động cơ quan trọng nhất của Mô hình phát triển là kinh tế tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ chiến lược; kinh tế số và chuyển đổi công nghệ toàn diện.

Mô hình phát triển tổng thể “Việt Nam - Quốc gia thịnh vượng toàn diện” sẽ được định hình trong Nghị quyết về Phát triển tổng thể đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Thưa ông, để xây dựng Mô hình phát triển tổng thể, cần bắt đầu từ đâu?

Theo tôi, cần bắt đầu từ việc nhìn nhận lại thành tựu, kết quả đã đạt được; thực tiễn hiện nay và thách thức để thực hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng và toàn diện.

Có thể khái quát, sau 40 năm Đổi mới, đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử - từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, chúng ta vươn lên thành nền kinh tế năng động với quy mô GDP đạt 514 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người tiệm cận ngưỡng thu nhập trung bình cao; khoảng 1 triệu doanh nghiệp tư nhân hoạt động; hội nhập quốc tế sâu rộng với 19 hiệp định thương mại tự do (FTA); tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% (năm 1993) xuống dưới 3% (năm 2025); đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; vị thế, uy tín trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Những thành tựu đó gắn liền với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng, huy động mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư, tận dụng hiệu quả lợi thế lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, các động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả. Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số, dư địa mở rộng lao động ngày càng thu hẹp, hiệu quả sử dụng vốn còn nhiều hạn chế, trong khi yêu cầu tăng trưởng kinh tế lại cao hơn nhiều. Mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi phải hình thành những động lực phát triển mới có năng suất cao hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn. Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về Phát triển tổng thể đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc nhận định, những yếu kém nội tại đòi hỏi phải nhìn thẳng và có giải pháp đột phá thực sự.

Bối cảnh mới, hoàn cảnh mới đã đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đất nước theo tinh thần lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, “các động lực truyền thống đang dần đến giới hạn”. Từ dữ liệu thống kê quốc gia, ông có thể đưa ra một số minh chứng?

Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế vẫn dựa khá nhiều vào mở rộng vốn đầu tư. Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội duy trì khoảng 32% GDP, nhưng Hệ số sử dụng vốn (ICOR) vẫn ở mức khoảng 6,4 lần, nghĩa là để tăng một đồng GDP phải bỏ ra 6,4 đồng vốn đầu tư. Trong khi đó, tốc độ tăng năng suất lao động bình quân chỉ đạt khoảng 5,2%/năm, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 6,5%/năm được đặt ra tại Nghị quyết 26/2021/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021-2025.

Năng suất lao động của Việt Nam hiện mới tương đương khoảng 11,6% của Singapore, 23% của Hàn Quốc, 24,4% của Nhật Bản và khoảng 59% của Thái Lan... Khoảng cách này cho thấy dư địa tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất vẫn còn rất lớn.

Cùng với đó, nền kinh tế vẫn phụ thuộc khá nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện đóng góp khoảng 20,5% GDP, nhưng chiếm tới khoảng 77% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Riêng đối với ngành điện tử - lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất hiện nay, tỷ lệ nội địa hóa mới đạt khoảng 5-10%, trong khi phần lớn công nghệ cốt lõi, thiết kế sản phẩm và sở hữu trí tuệ vẫn thuộc về các tập đoàn nước ngoài.

Điều này cho thấy, Việt Nam đã trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp, trong khi các khâu có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu phát triển, thiết kế, công nghệ lõi, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và thương hiệu vẫn còn hạn chế.

Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác định, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực cốt lõi của tăng trưởng mới, thưa ông?

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là điều chỉnh chính sách tăng trưởng, mà là đổi mới mô hình phát triển đất nước. Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, đất đai là nguồn lực sản xuất chủ yếu; trong nền kinh tế công nghiệp, vốn và lao động là động lực tăng trưởng chính; thì trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực sản xuất mới; khoa học công nghệ trở thành nền tảng phát triển. Đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực tăng trưởng; chuyển đổi số trở thành phương thức phát triển và trí tuệ nhân tạo đang từng bước trở thành lực lượng sản xuất mới.

Năm 2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số ước chiếm khoảng 14,02% GDP, tương đương khoảng 72 tỷ USD và đóng góp gần 27% vào tăng trưởng kinh tế; tổng đóng góp của kinh tế số và khoa học công nghệ đạt khoảng 16,5% GDP. Đây là những tín hiệu tích cực cho thấy các động lực tăng trưởng mới đang từng bước hình thành.

Tuy nhiên, quy mô phát triển chưa đồng nghĩa với năng lực làm chủ công nghệ. Hiện nay, ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học chiếm trên 33% quy mô kinh tế số, nhưng khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới trên 99%. Giá trị gia tăng tạo ra từ quá trình số hóa mới chiếm khoảng 40% quy mô kinh tế số. Điều đó cho thấy Việt Nam đang mạnh về sản xuất sản phẩm số nhưng chưa thực sự mạnh về sáng tạo, làm chủ và sở hữu công nghệ.

Đặc biệt, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của nước ta hiện mới đạt khoảng 0,4% GDP, thấp hơn đáng kể so với Israel (6,3%), Hàn Quốc (5%), Hoa Kỳ (3,5%), Nhật Bản (3,4%), Đức (3,1%), Trung Quốc (2,6%) và bình quân khối OECD (2,7%). Khoảng cách này phản ánh một thực tế là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành động lực tăng trưởng mới, nhưng chưa thực sự trở thành động lực chủ đạo của nền kinh tế.

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) được coi là thước đo thành công của mô hình phát triển mới. Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, TFP đóng góp vào tăng trưởng đạt trên 55% và lên trên 65% vào năm 2045. Ông có thể phân tích kỹ hơn về thành phần này?

Xét dưới góc độ kinh tế học, bản chất của quá trình đổi mới mô hình phát triển là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động và lợi thế chi phí thấp, sang tăng trưởng dựa trên TFP.

TFP phản ánh phần tăng trưởng được tạo ra bởi tiến bộ công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả quản trị và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Nói cách khác, đây là chỉ tiêu phản ánh tập trung nhất chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Mục tiêu cuối cùng của quá trình chuyển đổi không phải chỉ là đầu tư nhiều hơn cho khoa học công nghệ, không phải chỉ là số hóa nhiều hơn hay có thêm nhiều sáng chế hơn. Điều quan trọng là những yếu tố đó phải chuyển hóa thành năng suất lao động cao hơn, hiệu quả sử dụng vốn tốt hơn, năng lực cạnh tranh mạnh hơn và đóng góp lớn hơn của TFP vào tăng trưởng.

Thành công của mô hình phát triển mới cần được đo bằng những kết quả cụ thể như: năng suất lao động tăng nhanh hơn; đóng góp của TFP vào tăng trưởng lớn hơn; hệ số ICOR giảm xuống; tỷ lệ nội địa hóa cao hơn; mức độ làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam được nâng lên và tỷ trọng giá trị gia tăng của các doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu ngày càng lớn hơn.

Từ những phân tích trên và nội dung Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về Phát triển tổng thể đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, theo ông, đâu là đột phá cần tập trung để hiện thực hóa mô hình phát triển mới?

Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore, Israel và gần đây là Trung Quốc cho thấy, không có quốc gia nào trở thành nước phát triển chỉ bằng tích lũy vốn và mở rộng lao động. Điểm chung của các quốc gia thành công là đều chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo; lấy khoa học công nghệ làm nền tảng, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực và lấy thể chế hiện đại làm điều kiện bảo đảm cho phát triển. Đối với Việt Nam, để hiện thực hóa mô hình phát triển mới cần tập trung vào 3 đột phá mang tính nền tảng.

Thứ nhất, xây dựng thể chế vượt trội cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới sáng tạo.

Thứ hai, tập trung nguồn lực quốc gia cho khoa học công nghệ, hạ tầng số, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao; coi đây là đầu tư cho tăng trưởng dài hạn.

Thứ ba, phát triển doanh nghiệp Việt Nam trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; hình thành đội ngũ doanh nghiệp công nghệ có khả năng làm chủ công nghệ và tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư, lao động và các lợi thế chi phí thấp như trước đây. Động lực quyết định phải là sự gia tăng của TFP trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Lịch sử phát triển của các quốc gia thành công cho thấy, không có con đường nào khác để vượt qua bẫy thu nhập trung bình ngoài việc không ngừng nâng cao năng suất dựa trên khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đối với Việt Nam, đây không chỉ là một lựa chọn phát triển, mà còn là yêu cầu tất yếu để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Mạnh Bôn
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục