Doanh nghiệp châu Âu đang mở rộng đầu tư tại Việt Nam. Trong ảnh: Dự án sản xuất khí công nghiệp của Tập đoàn Messer (Đức) tại Thái Nguyên
Nâng tầm quan hệ đầu tư Việt Nam - EU
Chỉ vài tuần trước, ngày 1/8, chúng ta đã kỷ niệm 6 năm kể từ ngày ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Chỉ trong 6 năm ngắn ngủi này, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã đạt gần 400 tỷ USD - chiếm gần một nửa tổng kim ngạch thương mại 900 tỷ USD kể từ năm 1995. Bước sang năm thứ 7 thực thi EVFTA, Việt Nam sẽ được hưởng quyền miễn thuế đối với 99% số dòng thuế. Việc xóa bỏ thuế quan toàn diện này củng cố vị thế của Việt Nam là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của châu Âu tại ASEAN.
Cùng với đà tăng trưởng thương mại, hai bên đã nâng tầm quan hệ song phương lên Đối tác Chiến lược toàn diện (CSP) vào ngày 29/1/2026. Việt Nam tự hào là quốc gia đầu tiên trong ASEAN thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với EU - một minh chứng sâu sắc cho sự tin tưởng lẫn nhau và lợi ích chiến lược chung của hai bên.
Trong nước, sự phát triển kinh tế của Việt Nam cũng rất ấn tượng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa của Việt Nam đã chính thức vượt qua Philippines - một sự chuyển biến đáng kinh ngạc nếu nhìn lại vào năm 1990, nền kinh tế Việt Nam chỉ bằng 1/8 con số đó. Việt Nam đang vững vàng ở vị thế là động lực tăng trưởng chính của khu vực Đông Nam Á, tích cực thu hẹp khoảng cách để trở thành một trong 3 nền kinh tế hàng đầu khu vực.
Quỹ đạo phát triển năng động này được củng cố bởi kế hoạch nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam của FTSE Russell lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 9 này, mở khóa nguồn vốn và tích hợp trực tiếp Việt Nam vào các mạch tài chính toàn cầu.
Sự lạc quan được phản ánh rõ nét qua đánh giá thực tế của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu. Theo Báo cáo Chỉ số Niềm tin kinh doanh (BCI) quý II/2026 mới nhất của EuroCham, niềm tin kinh doanh tăng mạnh lên 79,7 điểm, một lần nữa gần chạm mốc 80 điểm lịch sử, bất chấp bối cảnh kinh tế vĩ mô toàn cầu đầy biến động. Hiện nay, 54% doanh nghiệp thành viên châu Âu của chúng tôi coi Việt Nam là thị trường chiến lược và cứ điểm hoạt động cốt lõi của họ.
Các doanh nghiệp châu Âu không chỉ tìm kiếm thị trường, mà còn kỳ vọng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, thuận lợi cho công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Với Nghị quyết 10-NQ/TW, quan hệ Việt Nam - EU sẽ bước vào một giai đoạn hợp tác sâu rộng hơn.
Niềm tin tích cực này song hành với Nghị quyết 10-NQ/TW (Nghị quyết 10) của Bộ Chính trị, đánh dấu một bước ngoặt mang tính tầm nhìn và không thể thiếu trong chiến lược kinh tế của Việt Nam. Đó là chuyển dịch dứt khoát từ đầu tư nước ngoài theo số lượng, thâm dụng lao động, sang đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, công nghệ cao, số hóa và bền vững.
Triết lý này phản ánh những gì mà các doanh nghiệp châu Âu vẫn luôn theo đuổi: đầu tư châu Âu là nguồn vốn sạch, có chất lượng quản trị cao, với những tiêu chuẩn ESG khắt khe, các mô hình sản xuất tuần hoàn khép kín và chuyển giao công nghệ cao đích thực.
Các doanh nghiệp châu Âu không hoạt động trong những khu vực biệt lập. Chúng tôi chủ động phát triển các nhà cung cấp trong nước thuộc cấp 1 và cấp 2 của Việt Nam, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng và gắn kết bền vững các ngành công nghiệp địa phương vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tuy nhiên, ở phân khúc đầu tư nước ngoài cao cấp này, sự cạnh tranh để thu hút vốn bền vững rất khốc liệt. Dòng vốn toàn cầu luôn mang tính chọn lọc. Khi các doanh nghiệp châu Âu đánh giá các dự án công nghiệp dài hạn, trị giá hàng tỷ USD, quyết định đầu tư của họ phụ thuộc vào 4 trụ cột không thể thiếu: tính dự đoán chính sách và sự chắc chắn về mặt pháp lý; nguyên tắc không hồi tố nghiêm ngặt trong việc thực thi hành chính và thuế; tốc độ vận hành và quản lý đồng bộ trên khắp 34 tỉnh, thành phố; sự sẵn sàng về nguồn năng lượng sạch và cơ sở hạ tầng, bao gồm năng lượng tái tạo công nghiệp, lưới truyền tải hiện đại hóa và khung Thỏa thuận Mua bán điện trực tiếp (DPPA) khả thi về mặt thương mại và có khả năng huy động vốn.
Bằng cách cụ thể hóa Nghị quyết 10 thành những biện pháp hành chính dễ thực hiện trên thực tế, Việt Nam sẽ thu hút được thế hệ đầu tư công nghệ và sản xuất tiên tiến tiếp theo của châu Âu.
Chúng tôi hoan nghênh Bộ Tài chính về phản hồi kịp thời trên hai cấp độ chiến lược: ở cấp độ thể chế vĩ mô và thông qua các giải pháp cụ thể, mang tính thực tiễn dành cho các doanh nghiệp thành viên của chúng tôi.
Chúng tôi hoan nghênh Quốc hội và Bộ Tài chính đã ban hành Luật số 09/2026/QH16 sửa đổi các luật thuế quan trọng. Luật mang tính bước ngoặt này thiết lập cơ chế khấu trừ thuế trong nền kinh tế số, yêu cầu các nền tảng thương mại điện tử phải khấu trừ thuế tại nguồn, hệ thống hóa các quy định về Thuế tối thiểu toàn cầu Trụ cột 2, đồng thời chuyển hướng các ưu đãi sang đầu tư nghiên cứu và phát triển thực tế cũng như chi tiêu cho các dự án xanh và đẩy nhanh việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) tự động cho các nhà xuất khẩu chân chính thông qua hệ thống đối chiếu hóa đơn điện tử trên toàn quốc.
Song song đó, Luật Hải quan mới - Luật số 11/2026/QH16 và các sửa đổi nghị định đang được Bộ Tài chính tham vấn, mang lại những bước đột phá cấu trúc quan trọng: quy định “Quản lý tuân thủ” để bảo vệ các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật khỏi việc kiểm tra hàng hóa thực tế quá mức và kiểm toán sau thông quan; thiết lập thủ tục thông quan điện tử chuyên dụng cho thương mại điện tử xuyên biên giới và bãi bỏ chế độ kho ngoại quan lỗi thời để loại bỏ gánh nặng hành chính dư thừa.
Điều ấn tượng không kém là vai trò lãnh đạo về số hóa của Bộ Tài chính. Với hơn 99% kê khai và hoàn thuế điện tử, tích hợp liền mạch hệ thống định danh số VNeID và việc triển khai các thuật toán trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để kiểm tra chéo hóa đơn chuỗi cung ứng và đánh giá rủi ro hoàn thuế mà không cần triệu tập thủ công, Việt Nam đang thiết lập các chuẩn mực khu vực. Kết hợp với việc thông quan tự động qua luồng xanh trong chưa đầy 3 giây của Hải quan thông qua VNACCS/VCIS và cải cách kiểm tra chuyên ngành tập trung theo Quyết định 38/QĐ-TTg và Quyết định 628/QĐ-TTg, hiện đại hóa hành chính đang mang lại tốc độ thực sự.
Sự tiến bộ ở cấp độ vĩ mô này được song hành với việc giải quyết các vấn đề cụ thể trên thực tế: các kênh đối thoại thể chế mạnh mẽ được duy trì, phân loại mã HS hải quan, đánh dấu nhãn hiệu…
Cải cách thể chế để giữ chân nhà đầu tư châu Âu
Làn sóng lạc quan này đi kèm với một lưu ý về mặt vận hành: hiệu quả hoạt động nội bộ mạnh mẽ khó có thể bù đắp cho khung pháp lý rườm rà. Nếu muốn biến tâm lý tích cực hiện tại thành những dự án quy mô lớn trong tương lai, Việt Nam cần thúc đẩy hơn nữa cải cách hành chính, tăng khả năng dự báo tài chính dài hạn và tạo điều kiện giữ lại vốn.
Cần tiếp tục chú trọng vào tính dự báo được về tài chính trong dài hạn và việc giữ lại nguồn vốn. Về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng tôi trân trọng đề nghị sớm ban hành hướng dẫn hợp nhất về hiệu lực chuyển tiếp nhằm loại bỏ những điểm chưa rõ ràng về mặt pháp lý đối với những dự án đầu tư hiện hữu tại các khu công nghiệp. Ngoài ra, để duy trì lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, chúng tôi đề xuất tái áp dụng các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ổn định dựa trên địa bàn đối với khu công nghiệp, kết hợp với các gói ưu đãi tài chính chuyên biệt dành cho khu công nghiệp sinh thái - chẳng hạn như cơ chế khấu trừ vượt mức 100% cho các khoản đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) xanh đủ điều kiện, cũng như kéo dài thời hạn cho thuê đất lên 70 năm.
Chúng tôi trân trọng đề xuất thể chế hóa cơ chế họp kỹ thuật định kỳ giữa các đơn vị chuyên môn và các ủy ban ngành của chúng tôi để trực tiếp giải quyết các vấn đề thực tiễn này.
Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của một kỷ nguyên kinh tế mới. EuroCham tái khẳng định cam kết đóng vai trò cầu nối bền vững và mang tính xây dựng giữa các nhà đầu tư châu Âu và Chính phủ Việt Nam, bảo đảm rằng các mục tiêu đầy tham vọng của Nghị quyết 10 sẽ được hiện thực hóa thành sự thịnh vượng chung bền vững.