“Miếng bánh” thị phần môi giới quý III khi cấu trúc dòng tiền thay đổi

(ĐTCK) Thanh khoản thu hẹp và tỷ trọng giao dịch thỏa thuận tăng cao đang tạo lợi thế cho các công ty chứng khoán mạnh về khách hàng tổ chức, thu xếp giao dịch lớn. Với nhóm bán lẻ, áp lực hiện tại cần được nhìn trong chu kỳ dòng tiền và khả năng phục hồi trên một nền khách hàng đã mở rộng.

Theo dữ liệu từ FiinProX, giá trị giao dịch bình quân trên HOSE và HNX trong quý III đạt khoảng 18.130 tỷ đồng/phiên, giảm 46% so với quý I và 58% so với cùng kỳ năm trước. So với mức 23.394 tỷ đồng/phiên của quý II, thanh khoản tiếp tục giảm khoảng 22%. VN-Index vẫn ở 1.768,6 điểm, nhưng mức điểm này không phản ánh đầy đủ cường độ tham gia của nhà đầu tư.

Khoảng cách giữa chỉ số và thanh khoản đặt ra một cách đọc khác đối với thị phần môi giới. Khi các nhóm khách hàng giảm giao dịch với tốc độ khác nhau, tỷ trọng dòng tiền đi qua từng công ty cũng thay đổi. Trong một thị trường như vậy, biến động thị phần chịu ảnh hưởng đáng kể từ cơ cấu khách hàng, bên cạnh năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.

Lợi thế của những nhà thu xếp giao dịch lớn

Tỷ trọng giao dịch thỏa thuận trên hai sàn tăng từ 9,9% trong quý I lên 18,1% trong quý II và duy trì mức này ở quý III. Giá trị thỏa thuận bình quân quý III khoảng 3.300 tỷ đồng/phiên, tương đương so với quý I. Điều thay đổi mạnh là tỷ trọng: khi khớp lệnh co lại, thỏa thuận trở thành phần lớn hơn của tổng thanh khoản.

Cơ cấu ấy tạo lợi thế cho các công ty có quan hệ sâu với những hệ sinh thái lớn trên thị trường. Những giao dịch chuyển nhượng khối lượng lớn thường phục vụ nhu cầu tái cơ cấu sở hữu hoặc phân bổ vốn, nên động lực thực hiện không hoàn toàn phụ thuộc tâm lý mua bán ngắn hạn của nhà đầu tư cá nhân.

Lợi thế của các đơn vị “trung gian” này nằm ở khả năng tiếp cận nguồn hàng, kết nối bên mua với bên bán và tổ chức thực hiện giao dịch. Quan hệ từ hoạt động tư vấn doanh nghiệp, ngân hàng đầu tư có thể tạo nguồn giao dịch riêng khi thị trường trầm lắng. Khi chuyển nhượng được thực hiện qua sở, dòng giao dịch này đóng góp vào thị phần môi giới.

Trong một thị trường thu hẹp, các thương vụ chuyển nhượng lớn có sức nặng hơn trên bảng thị phần. Năng lực kết nối và thực hiện giao dịch cho tổ chức vì thế tạo lợi thế rõ hơn cho các công ty có thế mạnh trong phân khúc này.

Với các nhà môi giới bán lẻ, áp lực đến từ cả quy mô lẫn cơ cấu dòng tiền. Tỷ trọng thỏa thuận tăng khiến khớp lệnh đóng góp ít hơn vào tổng thanh khoản. Các doanh nghiệp tập trung vào giao dịch của khách hàng cá nhân vì thế chịu bất lợi về thị phần tổng.

Giá trị khớp lệnh của nhà đầu tư trong nước trên hai sàn giảm từ 26.558 tỷ đồng/phiên trong quý I xuống 12.872 tỷ đồng/phiên trong quý III. Sự co lại của dòng tiền trong nước khiến nguồn giao dịch chủ lực của các công ty chứng khoán tập trung vào phân khúc bán lẻ tạm thời bị thu hẹp và biến động thị phần tổng trong một quý chưa phản ánh đầy đủ nội lực của doanh nghiệp.

Nền khách hàng rộng hơn cho chu kỳ thanh khoản tiếp theo

Nhà đầu tư cá nhân tạo nên nền khách hàng chủ yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam. Đến cuối tháng 8/2026, toàn thị trường có khoảng 13,89 triệu tài khoản, với 13,81 triệu tài khoản cá nhân trong nước, chiếm trên 99%. Dù một người có thể sở hữu nhiều tài khoản, cơ cấu này cho thấy sự phát triển của thị trường gắn chặt với mức độ tham gia của khách hàng cá nhân.

Tháng 7–8 vẫn ghi nhận bình quân khoảng 228.000 tài khoản cá nhân trong nước mở mới mỗi tháng. Tuy nhiên, giá trị khớp lệnh trong nước bình quân trên mỗi tài khoản cá nhân giảm từ 2,11 triệu đồng/phiên trong quý I xuống 0,93 triệu đồng trong quý III. Nền khách hàng mở rộng trong lúc giao dịch thu hẹp cho thấy thanh khoản thị trường đang chịu sức ép từ mức độ hoạt động thấp.

Nếu chỉ tiêu này trở lại khoảng 2,1 triệu đồng trên nền 13,8 triệu tài khoản, thanh khoản khớp lệnh tương ứng sẽ khoảng 29.000 tỷ đồng/phiên. Kịch bản minh họa này cho thấy khi dòng tiền cá nhân trở lại trên diện rộng, lợi thế sẽ trở lại với các nhà môi giới sở hữu tệp khách hàng lớn. Quan hệ đã được thiết lập giúp doanh nghiệp tiếp cận và phục vụ nhu cầu đầu tư tăng lên trên nền khách hàng sẵn có. Hạ tầng công nghệ và mạng lưới phục vụ cho phép tiếp nhận lượng lệnh lớn hơn. Giá trị giao dịch tăng mở rộng cơ sở thu phí, đồng thời giúp phân bổ chi phí cố định trên quy mô hoạt động cao hơn.

Triển vọng dài hạn của ngành được hỗ trợ bởi việc FTSE Russell nâng hạng Việt Nam có hiệu lực từ ngày 21/9/2026, với lộ trình đưa cổ phiếu vào FTSE GEIS qua bốn giai đoạn đến tháng 9/2027. Định hướng hiện đại hóa hạ tầng, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển nhà đầu tư tổ chức trong Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính cũng mở thêm dư địa tăng trưởng.

Mối quan hệ được duy trì trong giai đoạn trầm lắng giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng nhanh hơn khi giao dịch hồi phục. Trong một thị trường được xây dựng trên nền khách hàng cá nhân rộng, khả năng giữ chân và duy trì sự gắn bó với khách hàng là lợi thế dài hạn. Khi thanh khoản nhộn nhịp trở lại, các nhà bán lẻ dẫn đầu sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để chuyển lợi thế thị phần thành tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận.

Long Giang

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục