Cổ đông tham quan trải nghiệm các gian hàng sản phẩm của Masan Consumer
Cụ thể, trong quý I/2026, MSN ghi nhận mức lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số (NPAT Pre-MI) đạt 1.974 tỷ đồng, tăng gấp 2,0 lần so với cùng kỳ. Lợi nhuận hoạt động (EBIT) của nền tảng tiêu dùng - bán lẻ tăng lên 2.455 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ, phản ánh tăng trưởng lan tỏa trên toàn hệ sinh thái.
Kết quả sơ bộ quý II/2026 cho thấy, MSN đang đi đúng kế hoạch, với lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số dự kiến tăng khoảng 60% so với cùng kỳ.
Với WinCommerce (WCM) - công ty vận hành chuỗi bán lẻ WinMart/WinMart+/WiN - ghi nhận lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 204 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng gấp 3,5 lần so với cùng kỳ, tương ứng biên lợi nhuận 1,8%. Kết quả được thúc đẩy bởi lưu lượng khách hàng tăng, mở rộng mạng lưới kỷ luật và hiệu quả vận hành cải thiện.
Trong kỳ, WCM mở mới thuần 225 cửa hàng, nâng tổng số cửa hàng trên toàn quốc lên 4.817 điểm bán. Đáng chú ý, 100% số cửa hàng mở mới đã vượt điểm hòa vốn EBITDA ở cấp độ cửa hàng ngay trong quý.
Tăng trưởng doanh thu trên cùng cửa hàng (Like-for-like - LFL) ghi nhận tích cực trên tất cả mô hình, chủ yếu được dẫn dắt bởi lưu lượng khách hàng tăng (số hóa đơn) khi mức độ thâm nhập của bán lẻ hiện đại (MT) tiếp tục gia tăng. Trong đó, mô hình minimart đạt tăng trưởng LFL 11,8% trong quý I/2026, cao hơn mức 8,6% của quý I/2025. Mô hình siêu thị đạt tăng trưởng LFL 19,9% trong quý I/2026, cao hơn mức 6,1% của quý I/2025, nhờ chương trình nâng cấp cửa hàng giúp gia tăng lưu lượng khách. Đồng thời, mô hình siêu thị ghi nhận EBIT dương với biên lợi nhuận 3,5%, cải thiện 386 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tính đến tháng 3/2026, đã có 60 siêu thị hoàn tất nâng cấp, phần còn lại dự kiến hoàn thành trước cuối năm.
Masan Consumer (HOSE: MCH) ghi nhận doanh thu quý I/2026 đạt 8.472 tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ, trong khi lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 1.800 tỷ đồng, tăng 11,5%.
Retail Supreme tiếp tục ghi nhận những cải thiện rõ rệt trên các chỉ số vận hành trọng yếu tính đến tháng 3/2026: Số điểm bán hoạt động (ASO) đạt khoảng 500.000 điểm, tăng 2,3 lần so với trước khi triển khai Retail Supreme; số SKU trên mỗi đơn hàng đạt 5,5 (tăng 17,0%), đồng thời khoảng 57.000 điểm bán hiện phân phối từ sáu ngành hàng trở lên, tăng 2,0 lần; Khoảng 50.000 điểm bán đang áp dụng các tiêu chuẩn trưng bày và thực thi tại cửa hàng của MCH, tăng 1,8 lần.
Biên lợi nhuận gộp của MCH ổn định ở mức 46,7% so với cùng kỳ.
Với Masan MEATLife (UPCOM: MML), trong quý I/2026, Công ty ghi nhận doanh thu đạt 2.479 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ, với lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 147 tỷ đồng, tăng 27,2%. EBIT tăng gấp 3,0 lần so với cùng kỳ, với biên EBIT đạt 7,4%, cải thiện 450 điểm cơ bản, nhờ cả mảng thịt tươi và thịt chế biến cùng hưởng lợi từ hiệu quả quy mô cao hơn và giá trị tạo ra trên mỗi con heo thương phẩm được nâng lên. Tổng doanh thu của MML tại hệ thống WCM tăng 30,2% so với cùng kỳ.
Còn Phuc Long Heritage (PLH) ghi nhận doanh thu thuần đạt 569 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 34,0% so với cùng kỳ. Biên EBITDA đạt 20,8%, trong khi lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số tăng gấp 1,6 lần so với cùng kỳ, với biên lợi nhuận ròng đạt 10,3%, cải thiện 260 điểm cơ bản. Tăng trưởng được thúc đẩy bởi kênh giao hàng mở rộng và năng suất tại cửa hàng cải thiện rõ nét, với doanh thu trung bình ngày LFL (ADS) của các cửa hàng tiêu chuẩn đạt 26,3 triệu đồng, tăng 21,2% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, Masan High-Tech Materials (UPCOM: MSR) ghi nhận lợi nhuận sau thuế theo quý cao kỷ lục, đạt 537 tỷ đồng trong quý I/2026, so với khoản lỗ 222 tỷ đồng của quý I/2025, nhờ mặt bằng giá hàng hóa thuận lợi hơn, hiệu quả vận hành cải thiện và chi phí lãi vay thuần giảm xuống.
Doanh thu thuần đạt 2.993 tỷ đồng, tăng 114,9% so với cùng kỳ, được dẫn dắt bởi doanh thu APT đạt 2.445 tỷ đồng, tăng 3,2 lần so với cùng kỳ. Giá APT bình quân trong quý I/2026 đạt 1.865 USD/mtu và đạt 3.150 USD/mtu tại ngày 31/3/2026, so với giả định trong kế hoạch điều chỉnh năm 2026 của MSR ở mức khoảng 1.200 USD/mtu. Nếu mặt bằng giá hiện tại được duy trì trong phần còn lại của năm, MSR kỳ vọng đạt kết quả tài chính tích cực hơn đáng kể.
Công suất xử lý dự kiến phục hồi từ quý II/2026 và tăng mạnh hơn trong quý III/2026 sau khi giấy phép khai thác 28 triệu tấn được điều chỉnh, qua đó sản lượng quặng xử lý cả năm dự kiến vượt mức năm 2025.
MSR được kỳ vọng tạo ra dòng tiền hoạt động mạnh hơn và đẩy nhanh quá trình giảm đòn bẩy tài chính, với kế hoạch cập nhật cho thấy tỷ lệ nợ ròng trên EBITDA giảm từ 3,5 lần trong quý I/2026 xuống 1,7 lần vào cuối năm. Với giả định giá APT bình quân trên 1.500 USD/mtu, MSR đặt mục tiêu đưa tỷ lệ nợ ròng trên EBITDA về 0,1 lần vào cuối năm 2027 và thận trọng hơn là đạt trạng thái tiền mặt ròng dương vào cuối năm 2028. Điều này sẽ mở ra dư địa để giảm chi phí lãi vay, nâng cao chất lượng lợi nhuận và tạo tiềm năng chi trả cổ tức trong những năm tới.
Trước đó, Masan đã công bố kế hoạch chuyển niêm yết MSR sang sàn HOSE, nhằm nâng cao khả năng phản ánh giá trị nội tại, mở rộng cơ sở cổ đông, cải thiện thanh khoản và hỗ trợ thu hút nhà đầu tư chiến lược.
Phần lợi nhuận mà Masan ghi nhận từ Techcombank (HOSE: TCB) trong quý I/2026 đạt 1.316 tỷ đồng, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Để biết thêm chi tiết về kết quả hoạt động của TCB, vui lòng tham khảo trên website chính thức của ngân hàng.
Tiếp nối kết quả quý I/2026 cao kỷ lục, doanh thu và lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số của Masan ước đạt lần lượt 51.500 tỷ đồng và 4.600 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng tương ứng 38% và 76% so với cùng kỳ.