Lan tỏa động lực từ chính sách giảm thuế

(ĐTCK) Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, bà Lê Thị Yến, Giám đốc Công ty Tư vấn Thuế Hà Nội cho rằng, việc giảm thuế không chỉ dừng lại ở hỗ trợ tài chính, mà còn mang thông điệp đồng hành sâu sắc của Chính phủ, tạo thêm niềm tin và động lực để cộng đồng doanh nghiệp vươn lên.
Bà Lê Thị Yến, Giám đốc Công ty Tư vấn Thuế Hà Nội

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 398/2026/NĐ-CP quy định giảm 30% số thuế phải nộp cho doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng. Dưới góc nhìn tư vấn thuế, bà đánh giá thế nào về ý nghĩa và sức lan tỏa của chính sách này?

Trong bối cảnh hiện nay, doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh đang đối diện đồng thời với áp lực về thị trường, vốn, dòng tiền và chi phí tuân thủ. Cùng với yêu cầu minh bạch hóa hoạt động kinh doanh, các cơ sở kinh doanh phải đầu tư nhiều hơn cho hóa đơn, chứng từ, kế toán, công nghệ và nhân sự để thực hiện đúng nghĩa vụ pháp luật. Vì vậy, những chính sách tháo gỡ khó khăn, trong đó có giảm thuế là sự hỗ trợ rất thiết thực.

Trước hết, chính sách giảm trực tiếp 30% số thuế thu nhập phải nộp đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng giúp giảm áp lực tài chính và giữ lại một phần nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.

Với các đơn vị quy mô nhỏ, khoản tiền này có thể được sử dụng để bổ sung vốn lưu động, trả chi phí, duy trì việc làm hoặc tái đầu tư. Tuy nhiên, cần nhìn nhận khách quan rằng lợi ích trực tiếp rõ nhất thuộc về những đơn vị có phát sinh thuế thu nhập phải nộp; doanh nghiệp đang thua lỗ có thể chưa hưởng lợi ngay.

Tôi cũng đánh giá cao thông điệp về chính sách: Nhà nước chia sẻ một phần nguồn thu ngân sách để đồng hành cùng người kinh doanh, không chỉ về tài chính mà còn về tinh thần. Khi sự hỗ trợ đi song hành với yêu cầu minh bạch, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực để thực hiện đúng, kê khai đầy đủ và chủ động chuyển đổi sang hoạt động chính thức, bài bản hơn.

Sức lan tỏa của chính sách không dừng ở số thuế được giảm. Nếu nguồn lực được giữ lại tiếp tục đưa vào đầu tư, tuyển dụng và mở rộng hoạt động, chính sách sẽ đóng góp cho việc làm, tiêu dùng và tăng trưởng. Điều quan trọng là quy định phải được hướng dẫn rõ ràng, dễ thực hiện để người nộp thuế thực sự tiếp cận được lợi ích này.

Doanh nghiệp nên tận dụng khoản thuế được giảm để đưa vào đầu tư, tuyển dụng và mở rộng hoạt động, qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

Những điểm mấu chốt mà doanh nghiệp và hộ kinh doanh cần lưu ý khi xác định ngưỡng doanh thu không quá 10 tỷ đồng để được hưởng mức giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân là gì?

Điểm đầu tiên cần hiểu đúng là ngưỡng 10 tỷ đồng là ngưỡng doanh thu của từng năm 2026 hoặc 2027, không phải lợi nhuận, số tiền thu về hay mức thu nhập chịu thuế. Đồng thời, mức giảm 30% được tính trên số thuế thu nhập phải nộp, chứ không phải giảm 30% doanh thu hay giảm đồng loạt các sắc thuế.

Đối với doanh nghiệp, theo Điều 3 Nghị định 398/2026/NĐ-CP, doanh thu dùng để xét điều kiện bao gồm doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ (không loại trừ các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác.

Trường hợp có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh thì phải tính cả doanh thu của các đơn vị đó thể hiện trên báo cáo tài chính tổng hợp năm. Doanh nghiệp cần lưu ý thêm những quy định riêng đối với kỳ tính thuế đặc biệt và trường hợp chia, tách doanh nghiệp.

Ví dụ, một doanh nghiệp có doanh thu bán hàng 8,8 tỷ đồng, doanh thu tài chính 0,5 tỷ đồng và thu nhập khác 0,9 tỷ đồng thì tổng doanh thu để đối chiếu ngưỡng là 10,2 tỷ đồng. Nếu chỉ nhìn vào doanh thu bán hàng để kết luận đủ điều kiện giảm thuế sẽ dẫn đến sai sót.

Việc vượt ngưỡng doanh thu không tự động đồng nghĩa với gian lận thuế. Có trường hợp kinh doanh tốt hơn dự kiến, doanh thu tăng trong năm là diễn biến bình thường.

Bà Lê Thị Yến

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, doanh thu được xác định theo quy định riêng tại Nghị định 68/2026/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 141/2026/NĐ-CP. Cần tổng hợp doanh thu thực tế của toàn bộ hoạt động kinh doanh, không chỉ nhìn vào một cửa hàng hoặc một kênh bán hàng.

Chẳng hạn, doanh thu tại cửa hàng 6 tỷ đồng và doanh thu qua các kênh bán hàng trực tuyến 4,5 tỷ đồng thì phải xem xét tổng doanh thu 10,5 tỷ đồng, không thể tách từng kênh để xét ngưỡng riêng.

Tóm lại, người nộp thuế phải xác định đúng đối tượng, đúng phạm vi doanh thu và đúng kỳ tính thuế. Sai ngay từ bước xác định ngưỡng có thể khiến toàn bộ khoản thuế đã giảm phải được điều chỉnh lại.

Người nộp thuế cần thực hiện những bước gì để kê khai giảm thuế thuận lợi, chính xác với cơ quan thuế?

Về cơ bản, Nghị định thiết kế cơ chế tự xác định và kê khai, nhưng cách thực hiện của cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có sự khác nhau.

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trước hết cần ước tính doanh thu cả năm và kiểm tra điều kiện hưởng chính sách; tiếp theo xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp và phần được giảm 30%. Cá nhân kinh doanh trực tiếp khai thuế, sử dụng Mẫu số 01 ban hành kèm Nghị định và nộp cùng hồ sơ khai thuế theo kỳ quý, 6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm hoặc năm theo trường hợp áp dụng.

Nếu tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, khai thay, nộp thay thì sử dụng Mẫu số 02 cùng hồ sơ khai thuế tương ứng. Sau khi kê khai, cần tiếp tục đối chiếu doanh thu lũy kế với dự kiến ban đầu.

Đối với doanh nghiệp, quy trình có thể tóm gọn thành bốn bước: dự kiến doanh thu của năm tính thuế; tự xác định khoản giảm khi tính số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp hằng quý; theo dõi doanh thu, thu nhập và số đã tạm nộp trong năm; cuối cùng xác định lại số được giảm và nghĩa vụ phải nộp khi quyết toán năm.

Doanh nghiệp không dùng Mẫu số 01, 02 dành cho cá nhân kinh doanh và tổ chức khai thay.

Theo tôi, thủ tục không quá phức tạp; khó nhất nằm ở chất lượng dữ liệu. Muốn kê khai chính xác, người nộp thuế cần có hệ thống hóa đơn, sổ sách và số liệu doanh thu đáng tin cậy để chứng minh điều kiện được giảm. Cơ chế tự kê khai tạo thuận lợi, đồng thời cũng đòi hỏi trách nhiệm chủ động của người nộp thuế.

Trường hợp ban đầu dự kiến doanh thu không quá 10 tỷ đồng, nhưng thực tế vượt ngưỡng, việc khai bổ sung và tính tiền chậm nộp được xử lý thế nào?

Trước hết, cần khẳng định: khi tổng doanh thu thực tế của năm vượt 10 tỷ đồng thì người nộp thuế không còn đủ điều kiện hưởng mức giảm 30% của năm đó. Tuy nhiên, cách kê khai điều chỉnh và xử lý tiền chậm nộp có điểm khác biệt giữa cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp.

Đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, khi phát sinh doanh thu lũy kế vượt ngưỡng ưu đãi trong năm, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sẽ không thuộc diện được giảm 30% thuế thu nhập cá nhân của năm tính thuế đó.

Về mặt thủ tục, cơ sở kinh doanh phải chủ động kê khai nộp bổ sung số thuế đã được giảm trước đó bằng cách sử dụng Mẫu số 03 kèm theo hồ sơ khai thuế của đúng kỳ phát sinh doanh thu lũy kế vượt ngưỡng.

Đáng chú ý, pháp luật về thuế quy định chính sách hỗ trợ tạo điều kiện cho người nộp thuế: phần thuế bổ sung do vượt ngưỡng này sẽ không bị tính tiền chậm nộp tính đến hạn nộp hồ sơ của kỳ phát sinh doanh thu lũy kế vượt mốc 10 tỷ đồng.

Đối với khối doanh nghiệp, khi có doanh thu vượt ngưỡng sẽ không được hưởng chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp của năm. Doanh nghiệp có trách nhiệm rà soát, xác định lại chính xác toàn bộ nghĩa vụ thuế thuế thu nhập doanh nghiệp của cả năm, thực hiện kê khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn quy định.

Về việc tính tiền chậm nộp, nghĩa vụ của doanh nghiệp được căn cứ trực tiếp theo khoản 3 Điều 24 Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Doanh nghiệp không được mặc nhiên áp dụng cơ chế ưu đãi hoặc chính sách miễn tính tiền chậm nộp đặc thù dành riêng cho hộ, cá nhân kinh doanh.

Ví dụ, một hộ kinh doanh dự kiến doanh thu năm 2026 là 9 tỷ đồng và đã kê khai giảm thuế. Đến quý IV, doanh thu lũy kế đạt 10,5 tỷ đồng thì hộ kinh doanh phải xác định lại số thuế thu nhập cá nhân, nộp bổ sung phần đã được giảm và kê khai điều chỉnh theo Mẫu số 03 đúng kỳ quy định.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, việc vượt ngưỡng doanh thu không tự động đồng nghĩa với gian lận thuế. Có trường hợp kinh doanh tốt hơn dự kiến, doanh thu tăng trong năm là diễn biến bình thường. Điều cần phân biệt là người nộp thuế chủ động kê khai lại khi điều kiện thay đổi hay cố tình che giấu, kê khai không đúng doanh thu. Với những đơn vị tiệm cận ngưỡng 10 tỷ đồng, theo dõi doanh thu lũy kế thường xuyên là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất.

Bà có khuyến nghị gì để doanh nghiệp và hộ kinh doanh tận dụng chính sách, tối ưu dòng tiền và tuân thủ tốt pháp luật thuế?

Tôi có năm khuyến nghị thực tiễn đối với người nộp thuế.

Thứ nhất, chuẩn hóa dữ liệu ngay từ đầu. Doanh nghiệp cần quản lý đồng bộ hóa đơn, chứng từ, sổ kế toán và số liệu bán hàng; hộ kinh doanh cần ghi nhận đầy đủ doanh thu từ bán trực tiếp, thương mại điện tử, chuyển khoản và các kênh kinh doanh khác. Muốn hưởng chính sách đúng, trước hết phải có dữ liệu đúng.

Thứ hai, chuyển từ kế toán chỉ phục vụ kê khai sang kế toán có khả năng dự báo. Bộ phận kế toán cần thường xuyên cập nhật doanh thu lũy kế, lập dự báo doanh thu cuối năm và cảnh báo sớm nguy cơ vượt ngưỡng để chủ kinh doanh chủ động kế hoạch thuế và dòng tiền.

Thứ ba, bắt đầu xây dựng kế hoạch kinh doanh và doanh thu năm 2027 từ sớm. Chính sách áp dụng theo từng năm, vì vậy cần dự báo sát thực tế, xây dựng các kịch bản doanh thu và lợi nhuận, đồng thời xác định việc sử dụng phần nguồn lực tiết kiệm được cho hoạt động kinh doanh. Tuyệt đối không nên hạn chế hoặc che giấu doanh thu chỉ để giữ điều kiện ưu đãi.

Thứ tư, chủ động kiểm soát rủi ro thuế. Hãy định kỳ đối chiếu dữ liệu giữa hóa đơn, doanh thu thực tế, kế toán, ngân hàng và hồ sơ khai thuế; phát hiện chênh lệch phải kịp thời kiểm tra, điều chỉnh đúng quy định, không để dồn đến cuối năm.

Thứ năm, nâng cao chất lượng phối hợp với cơ quan thuế. Người nộp thuế cần lưu giữ hồ sơ rõ ràng, cập nhật hướng dẫn chính thức và chủ động hỏi khi có tình huống chưa rõ, thay vì chỉ xử lý khi đã phát sinh kiểm tra.

Tôi cho rằng, chính sách giảm thuế chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi đi cùng năng lực quản trị của người nộp thuế. Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy kế toán để kê khai, nộp thuế sang sử dụng dữ liệu kế toán để quản trị doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dòng tiền và rủi ro pháp lý. Khi đó, ưu đãi thuế không chỉ là một khoản giảm nghĩa vụ trước mắt mà còn góp phần tạo nền tảng phát triển bền vững.

Nhật Minh (thực hiện)

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục