Làn sóng tăng vốn trở lại

(ĐTCK) Kỳ vọng dòng vốn ngoại quay trở lại khi thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên mới nổi không chỉ thúc đẩy các thương vụ IPO và niêm yết mới, mà còn kích hoạt làn sóng tăng vốn từ các doanh nghiệp đang niêm yết.
BIDV lên kế hoạch tăng vốn thêm hơn 21.600 tỷ đồng, lên gần 91.870 tỷ đồng trong năm 2026

Dồn dập các kế hoạch tăng vốn

Mùa đại hội cổ đông 2026 đang chứng kiến hàng loạt kế hoạch tăng vốn quy mô lớn, trong đó nổi bật là nhóm ngân hàng.

Đơn cử, MBBank đặt mục tiêu nâng vốn điều lệ lên hơn 102.000 tỷ đồng thông qua chia cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán cho cổ đông hiện hữu và phát hành riêng lẻ. BIDV cũng lên kế hoạch tăng vốn thêm hơn 21.600 tỷ đồng, lên gần 91.870 tỷ đồng, thông qua nhiều hình thức như phát hành cổ phiếu thưởng, trả cổ tức và chào bán riêng lẻ. Hay Vietcombank dự kiến phát hành tối đa hơn 1,068 tỷ cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu cho cổ đông hiện hữu, tương ứng tổng giá trị phát hành theo mệnh giá tối đa khoảng 10.687 tỷ đồng, bên cạnh kế hoạch chào bán riêng lẻ tối đa 543,1 triệu cổ phiếu, với tổng giá trị theo mệnh giá khoảng 5.431 tỷ đồng (đã được thông qua tại đại hội cổ đông năm trước). Ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ hơn, NCB dự kiến phát hành riêng lẻ tới 1 tỷ cổ phiếu, qua đó nâng vốn điều lệ thêm gần 52% ngay trong năm 2026…

Thực tế, xu hướng này đã manh nha từ mùa đại hội cổ đông năm 2025, khi hàng loạt ngân hàng thông qua kế hoạch tăng vốn quy mô lớn. Việc tăng vốn không chỉ là câu chuyện riêng lẻ của từng ngân hàng, mà là cuộc đua nhằm củng cố “bộ đệm vốn”, đáp ứng nhu cầu tín dụng cao của nền kinh tế cũng như các tiêu chuẩn khắt khe hơn về an toàn vốn, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn của ngân hàng.

Làn sóng tăng vốn không chỉ diễn ra mạnh mẽ trong ngành ngân hàng, mà còn ở nhiều ngành nghề khác. Ngày 15/4 tới, Saigontel (mã SGT) dự kiến trình đại hội cổ đông kế hoạch chào bán 148 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ 1:1, nhằm huy động khoảng 1.480 tỷ đồng. Trong đó, 718 tỷ đồng được dùng để trả nợ, phần còn lại đầu tư mua cổ phần Công ty cổ phần Tăng trưởng Xanh Việt Nam.

Tại thời điểm 31/12/2025, Saigontel chỉ có 409,4 tỷ đồng tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn, trong khi dư nợ vay lên tới 3.726,78 tỷ đồng, tương đương 154,09% vốn chủ sở hữu. Đáng chú ý, với việc triển khai đồng thời hơn 7 dự án khu công nghiệp/cụm công nghiệp, riêng năm 2026, Saigontel dự kiến thu xếp từ 2.000 - 3.000 tỷ đồng thông qua nhiều kênh như tăng vốn, vay ngân hàng hoặc hợp tác đầu tư.

Ở nhóm doanh nghiệp thép, Công ty cổ phần Thép Nam Kim (mã NKG) cũng liên tục tăng vốn để phục vụ đầu tư. Sau đợt tăng vốn thêm 1.579,7 tỷ đồng trong năm 2025, năm nay, Công ty lên kế hoạch chào bán theo tỷ lệ 25%, dự kiến huy động 1.494,98 tỷ đồng. Nguồn vốn huy động sẽ được dùng để góp vốn vào Công ty TNHH Tôn Nam Kim Phú Mỹ nhằm triển khai dự án nhà máy mới và/hoặc bổ sung vốn lưu động. Tại thời điểm cuối năm 2025, dư nợ vay của Nam Kim đạt 6.867,11 tỷ đồng, tương đương 89,9% vốn chủ sở hữu.

Đáng chú ý, dự án Nhà máy Tôn Nam Kim Phú Mỹ có tổng vốn đầu tư 6.200 tỷ đồng, đã được điều chỉnh tăng 1.700 tỷ đồng so với kế hoạch ban đầu. Việc dự án đội vốn cùng với tỷ lệ đòn bẩy cao buộc doanh nghiệp phải tiếp tục huy động vốn cổ phần để đảm bảo tiến độ triển khai.

Tại đại hội cổ đông diễn ra vào ngày 24/4 tới, Công ty cổ phần Đầu tư Thương mại SMC (mã SMC) dự kiến trình cổ đông phương án chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ 2:1, tương ứng phát hành thêm 36,803 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu nhằm huy động 368,03 tỷ đồng. Theo kế hoạch, 168,03 tỷ đồng huy động từ đợt phát hành sẽ được sử dụng để thanh toán nợ vay, 200 tỷ đồng còn lại dùng để trả nợ nhà cung cấp.

Tại thời điểm cuối năm 2025, dư nợ vay của SMC đạt 2.049,2 tỷ đồng, tương đương 203,4% vốn chủ sở hữu, cao hơn đáng kể so với mức trung bình ngành 85% và doanh nghiệp gặp khó khăn kéo dài do bị các chủ đầu tư/nhà thầu chậm thanh toán tiền trong nhiều năm. SMC đã phải bán đi tài sản có thanh khoản, cắt giảm quy mô và thay gần như toàn bộ lãnh đạo chủ chốt.

Trong khi đó, Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí (Petrosetco) cũng lên kế hoạch chào bán cổ phiếu tỷ lệ 1:1, tương ứng phát hành 106,7 triệu cổ phiếu, dự kiến huy động 1.067,2 tỷ đồng. Nguồn vốn này sẽ được sử dụng để đầu tư dự án, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết, đồng thời tái cấu trúc tài chính.

Phương án tối ưu khi lãi suất tăng cao

Nhu cầu vốn ở các doanh nghiệp rất lớn, đặc biệt ở khối ngân hàng và doanh nghiệp bất động sản, doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn. So với các phương án huy động vốn khác cho doanh nghiệp như vay vốn tín dụng, phát hành trái phiếu…, việc tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu có ưu điểm quan trọng là doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính bền vững, không chịu áp lực chi phí tài chính hàng tháng, không phải hoàn trả lãi và gốc… Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đã tăng khá mạnh trong thời gian qua và tín dụng vào lĩnh vực bất động sản được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Thực tế, mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng đi lên từ đầu quý IV/2025 sau một thời gian dài duy trì ở vùng thấp lịch sử. Lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 -12 tháng ở nhiều nhà băng tư nhân đã ở quanh mức 8%/năm, thậm chí mức lãi suất huy động 10%/năm đã xuất hiện ở một số khoản tiền gửi. Mặt bằng lãi suất cho vay cũng điều chỉnh theo đà tăng của lãi suất huy động. Tại nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối (Big4), lãi suất cho vay đã tăng lên mức từ 12 - 13%/năm. Diễn biến này đã gây áp lực đáng kể lên các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính, đặc biệt là các khoản vay có lãi suất thả nổi.

Theo ông Lâm Văn Vân, đại diện Quỹ đầu tư ECI Capital, trong môi trường lãi suất cao, doanh nghiệp có dư nợ vay cao trong giai đoạn đầu tư sẽ chịu tác động kép. Thứ nhất, chi phí tài chính gia tăng nhanh chóng khiến lợi nhuận bị bào mòn. Với các khoản vay thả nổi, lãi suất tăng liên tục khiến chi phí lãi vay phình to ngoài dự kiến, thu hẹp biên lợi nhuận, thậm chí có thể khiến doanh nghiệp gặp khó về dòng tiền. Thứ hai, áp lực dòng tiền trở nên rõ rệt. Ở giai đoạn đầu tư, doanh nghiệp thường chưa ghi nhận doanh thu, trong khi nghĩa vụ trả lãi và gốc vẫn đến hạn. Điều này buộc doanh nghiệp phải tái cơ cấu nợ, giãn tiến độ hoặc tìm kiếm nguồn vốn mới với chi phí cao hơn, làm gia tăng rủi ro tài chính trong quá trình đầu tư dự án mới. Ngoài ra, hệ số đòn bẩy cao trong bối cảnh lãi suất tăng còn ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn mới. Các tổ chức tín dụng có xu hướng thận trọng hơn, yêu cầu tài sản đảm bảo cao hơn hoặc siết hạn mức tín dụng, khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc triển khai các dự án dang dở.

Một ví dụ điển hình là trong báo cáo công bố mới đây, SSI Research lùi giả định bán hàng tại dự án Hado Minh Long và Hado Green Lane của Tập đoàn Hà Đô (mã HDG) từ giai đoạn 2027 - 2030 sang giai đoạn 2028 - 2030 do các thủ tục pháp lý và quá trình xây dựng (đặc biệt với dự án Hado Green Lane) có thể cần thêm thời gian để triển khai. Quan điểm thận trọng này phần nào phản ánh bối cảnh lãi suất cao và môi trường đầu tư còn nhiều thách thức.

Trong bối cảnh đó, phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, tăng vốn chủ sở hữu là lựa chọn tối ưu của nhiều doanh nghiệp niêm yết nhằm củng cố năng lực tài chính, phục vụ cho các kế hoạch đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất - kinh doanh. Điểm tựa cho các kế hoạch này là kỳ vọng thị trường chứng khoán trong nước sẽ gia tăng sức hút với dòng vốn ngoại khi chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường chưa thực sự ổn định, các đợt gọi vốn mới quy mô lớn cũng đặt ra thách thức về khả năng hấp thụ của nhà đầu tư, đặc biệt khi dòng tiền có xu hướng thận trọng trước cú sốc của thị trường năng lượng toàn cầu, lạm phát và đà tăng lãi suất ở trong nước.

Duy Bắc

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục