Lãi suất thấp chưa đủ, doanh nghiệp cần “vốn đúng chỗ”

(ĐTCK)  Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số tạo áp lực lớn lên chính sách tiền tệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng điều họ cần không chỉ là lãi suất thấp hơn, mà còn là khả năng tiếp cận thực chất với các chương trình hỗ trợ, chuyển đổi số và nguồn vốn phù hợp.
Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) trao đổi tại Toạ đàm

Lãi suất thấp chưa đủ cứu doanh nghiệp

Tại Tọa đàm “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”, ông Trần Văn Hiển, Trưởng Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME), cho rằng điều cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa cần lúc này không chỉ là lãi suất thấp hơn, mà là những chính sách hỗ trợ thực chất hơn để có thể tiếp cận được nguồn lực phát triển.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế, là lực lượng quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, khai thác tiềm năng địa phương và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực dễ tổn thương nhất trước biến động chi phí vốn và sức cầu thị trường.

Theo ông Hiển, việc điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý thời gian qua đã góp phần đáng kể giúp doanh nghiệp giảm áp lực tài chính, có thêm dư địa phục hồi sản xuất kinh doanh. Việc giảm lãi suất là động thái “rất thiết thực và kịp thời”, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn đang chịu sức ép lớn sau giai đoạn khó khăn của nền kinh tế.

Mặt bằng lãi suất thấp hơn giúp doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý để tái cấu trúc hoạt động, đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng thị trường. Đồng thời, đây cũng là yếu tố quan trọng giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí vận hành và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Ông Trần Văn Hiển, Trưởng Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) trao đổi tại Toạ đàm

Ông Hiển nói: “Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn nằm ở chỗ nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự tiếp cận được các chương trình hỗ trợ đã ban hành.

Theo đại diện VINASME, nhiều quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chưa tạo được hiệu quả lan tỏa như kỳ vọng bởi số lượng doanh nghiệp tiếp cận được còn rất hạn chế. Đây là điểm nghẽn khiến không ít chính sách tốt vẫn nằm trên giấy. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam xuất phát từ mô hình hộ kinh doanh, quy mô nhỏ, quản trị dựa nhiều vào kinh nghiệm nên còn hạn chế trong xây dựng chiến lược dài hạn, quản trị tài chính, quản trị rủi ro cũng như khả năng thích ứng với các tiêu chuẩn mới của thị trường.

“Trong bối cảnh nền kinh tế đang dịch chuyển mạnh sang số hóa và phát triển xanh, những hạn chế này càng bộc lộ rõ hơn. Doanh nghiệp cần chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, nâng cao quản trị để tồn tại và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng lại khó tiếp cận chính các chương trình hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi đó”, ông Hiển chia sẻ.

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có quy định về hỗ trợ chi phí chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn chậm, thiếu độ phủ và thủ tục tiếp cận còn phức tạp. Điều đó cho thấy, giảm lãi suất chỉ là một phần của lời giải. Nếu không tháo gỡ được các nút thắt về thể chế, thông tin và năng lực quản trị, dòng vốn dù rẻ hơn vẫn khó phát huy hiệu quả.

Ngân hàng không chỉ cho vay, mà còn đồng hành

Ở góc độ ngân hàng thương mại, bà Vũ Thị Hồng Nhung, Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn, Vietcombank cho rằng với các ngân hàng có vốn Nhà nước như Vietcombank, việc ổn định mặt bằng lãi suất không đơn thuần là bài toán kinh doanh mà còn gắn với trách nhiệm thực hiện các chương trình tín dụng theo định hướng của Chính phủ, đặc biệt là đưa vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Theo bà Nhung, lãi suất ổn định giúp doanh nghiệp yên tâm hơn trong hoạch định kế hoạch đầu tư trung và dài hạn, nhất là với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu lãi suất biến động mạnh, doanh nghiệp sẽ e ngại mở rộng sản xuất, thậm chí phải điều chỉnh phương án kinh doanh.

Không chỉ doanh nghiệp, người dân cũng được hưởng lợi trực tiếp từ xu hướng này. Khi chi phí vay tiêu dùng giảm bớt, áp lực tài chính giảm xuống, tiêu dùng được thúc đẩy và qua đó hỗ trợ tăng trưởng chung của nền kinh tế. “Quan trọng hơn, dòng tiền sẽ hướng vào nền kinh tế thực thay vì chỉ đưa vào trông chờ lãi ngân hàng. Đây cũng là yếu tố giúp hệ thống ngân hàng giảm áp lực nợ xấu trong tương lai”, bà Nhung nhận định.

Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn, Vietcombank chia sẻ sự kiện

Sau cuộc họp giữa NHNN và 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4/2026, hệ thống ngân hàng đã thể hiện quyết tâm rõ rệt trong việc giảm mặt bằng lãi suất huy động. Ngay sau đó, 4 ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước đã thống nhất giảm tối thiểu 0,5% lãi suất huy động ở tất cả các kỳ hạn. Theo đại diện Vietcombank, điều này không chỉ nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng mà còn giúp hạn chế nguy cơ cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng, ổn định chi phí vốn và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.

Quan trọng hơn, vai trò đồng hành của ngân hàng hiện không còn dừng ở việc cung cấp tín dụng.Với hệ sinh thái gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cùng mạng lưới hiện diện ở nước ngoài, Vietcombank đang hướng tới mô hình kết nối hệ sinh thái giữa ngân hàng và doanh nghiệp, thay vì mối quan hệ một chiều giữa bên cho vay và bên đi vay.

“Khi tham gia vào chuỗi cung ứng, chúng tôi có thể quan sát dòng tiền và hoạt động thực tế của doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở cấp tín dụng thay vì chỉ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm”, bà Nhung cho biết.

Đây là cách tiếp cận đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm thường yếu về tài sản thế chấp nhưng có khả năng tạo giá trị nếu được tiếp cận vốn đúng cách. Song song với đó, đầu tư mạnh cho ngân hàng số, cho vay online và các nền tảng quản trị tài chính cũng giúp doanh nghiệp tối ưu hóa dòng tiền, giảm chi phí vận hành và nâng cao năng lực cạnh tranh trong môi trường mới.

Bài toán lớn nhất vẫn là ổn định vĩ mô

Từ góc độ điều hành chính sách, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) nhận định, áp lực hiện nay không chỉ đến từ nhu cầu hỗ trợ tăng trưởng mà còn từ những biến động khó lường của kinh tế toàn cầu. Xung đột địa chính trị tại Trung Đông khiến giá dầu tăng mạnh, lạm phát toàn cầu neo cao. IMF đã điều chỉnh dự báo lạm phát toàn cầu tăng thêm 0,6 điểm phần trăm lên khoảng 4,4%, cao hơn mức thực tế năm 2025 là 4,1%.

Điều này khiến chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia trở nên khó dự báo hơn. Ngay cả Fed cũng đã thay đổi đáng kể định hướng điều hành lãi suất trong thời gian qua. Với Việt Nam - một nền kinh tế có độ mở lớn - những thay đổi đó nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực lên lãi suất, dòng vốn và tỷ giá. Trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra cho năm 2026 mà còn cho cả giai đoạn 5 năm tới. Đây là áp lực rất lớn trong bối cảnh lạm phát vẫn là mối quan tâm hàng đầu.

“Đây là mục tiêu kép mà trong điều hành chính sách thường được ví như bài toán bộ ba bất khả thi”, ông Quang chia sẻ.

Toàn cảnh Tọa đàm

Theo đó, nhà điều hành phải xử lý cùng lúc ba yêu cầu rất khó dung hòa: giữ lãi suất đủ thấp để hỗ trợ tăng trưởng, giữ tỷ giá ổn định trong bối cảnh áp lực bên ngoài gia tăng, đồng thời vẫn phải kiểm soát lạm phát và thanh khoản hệ thống. NHNN thời gian qua đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để giảm lãi suất cho vay, từ duy trì ổn định lãi suất điều hành, hỗ trợ thanh khoản qua thị trường mở, kéo dài kỳ hạn cung ứng vốn tới 2 tháng, đến triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ để bổ sung thanh khoản đồng Việt Nam.

Cũng theo ông Quang, sau cuộc họp ngày 9/4, gần như toàn bộ các ngân hàng đã đồng thuận giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 6-12 tháng với mức giảm từ 0,1-1%/năm. Lãi suất bình quân các khoản huy động mới hiện ở mức khoảng 5,7%, giảm khoảng 0,26% so với cuối tháng 3/2026. Thực tế cho thấy, lãi suất cho vay cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ.

Tuy nhiên, có thể khẳng định, chính sách tiền tệ chỉ có thể đóng vai trò hỗ trợ, không thể gánh toàn bộ mục tiêu tăng trưởng. Động lực thực sự cho tăng trưởng hai con số phải đến từ đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động và vai trò dẫn dắt của chính sách tài khóa.

“Chính sách tiền tệ sẽ là chính sách hỗ trợ, bổ trợ cho chính sách tài khóa để neo giữ kỳ vọng về kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô”, ông Quang nhấn mạnh.

Nói cách khác, tăng trưởng bền vững không thể chỉ trông vào tín dụng.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục