Khơi thông dòng vốn xanh

(ĐTCK) Tín dụng xanh tại Việt Nam đang tăng nhanh nhưng quy mô vẫn còn khá nhỏ so với tổng dư nợ và nhu cầu vốn cho quá trình chuyển đổi xanh.

Nhu cầu vốn xanh lớn hơn khả năng tài trợ của ngân hàng

Những năm gần đây, tín dụng xanh trở thành một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh của hệ thống ngân hàng. Đến tháng 6/2026, 82 tổ chức tín dụng đã phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng quy mô khoảng 828.000 tỷ đồng, cao gấp 4,6 lần năm 2017 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2017 - 2025. Trong đó, hơn 30% dư nợ tập trung vào lĩnh vực năng lượng xanh và trên 32% liên quan đến nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học.

Tính trên tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế khoảng 20,03 triệu tỷ đồng tại thời điểm cuối tháng 6/2026, tín dụng xanh mới chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 4% và tỷ lệ không thay đổi nhiều trong vài năm qua.

Trong khi đó, theo Báo cáo Quốc gia về Khí hậu và Phát triển của World Bank, Việt Nam có thể cần thêm khoảng 368 tỷ USD đầu tư đến năm 2040 để thực hiện lộ trình thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới phát thải ròng bằng 0, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, riêng đầu tư cho thích ứng với biến đổi khí hậu có thể cần khoảng 254 tỷ USD, còn các giải pháp nhằm làm chậm tốc độ tăng phát thải cần ít nhất 81 tỷ USD.

Những con số này cho thấy khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng cung ứng vẫn rất lớn. Ngay cả khi tín dụng xanh tiếp tục tăng nhanh, hệ thống ngân hàng cũng khó có thể một mình đáp ứng toàn bộ nhu cầu chuyển đổi.

Điểm đáng lưu ý nữa là phần lớn các dự án xanh có nhu cầu vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn dài (có thể kéo dài từ 10 - 20 năm tại các dự án năng lượng, giao thông xanh, xử lý nước thải, hay cải tạo dây chuyền sản xuất), trong khi nguồn vốn của ngân hàng thương mại chủ yếu hình thành từ tiền gửi có kỳ hạn ngắn. Nếu tỷ trọng cho vay các dự án xanh tăng quá nhanh, áp lực thanh khoản và quản trị tài sản - nguồn vốn của ngân hàng cũng tăng theo.

Một dự án xanh chưa chắc là một dự án tín dụng tốt

Dưới góc nhìn tín dụng, ngân hàng phải đánh giá khả năng trả nợ, dòng tiền, yếu tố công nghệ, vốn chủ sở hữu và tài sản bảo đảm của khách hàng vay vốn. Với dự án xanh, quá trình thẩm định còn phức tạp hơn do phải đánh giá thêm hiệu quả môi trường và khả năng đo lường lượng phát thải được cắt giảm.

Thực tế, tín dụng xanh hiện vẫn tập trung vào những lĩnh vực tương đối dễ nhận diện như năng lượng xanh, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học. Hai nhóm này chiếm hơn 60% tổng dư nợ xanh. Các lĩnh vực như xây dựng xanh, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn hay chuyển đổi công nghiệp nằm trong 40% dư nợ còn lại.

Đặc biệt, tại khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, dù nhiều doanh nghiệp muốn thay đổi máy móc, giảm tiêu hao năng lượng hay đáp ứng yêu cầu môi trường từ khách hàng quốc tế nhưng lại thiếu dữ liệu để chứng minh hiệu quả giảm phát thải và chưa đủ năng lực xây dựng hồ sơ dự án theo yêu cầu của tổ chức tín dụng. Vì vậy, dù ngân hàng muốn mở rộng tín dụng xanh, doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để chuyển đổi xanh nhưng hai bên vẫn không “gặp” nhau. Điều này cho thấy giảm thêm lãi suất chưa chắc giải quyết được điểm nghẽn tín dụng xanh.

Muốn dòng vốn xanh phát triển, điều kiện đầu tiên là các bên phải thống nhất được thế nào là một dự án xanh. Quyết định 21/2025/QĐ-TTg đã quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc Danh mục phân loại xanh, tạo cơ sở để ngân hàng, doanh nghiệp và nhà đầu tư có cách nhận diện thống nhất hơn. Ngày 17/9/2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định 46/2026/QĐ-TTg hướng dẫn xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung môi trường, xã hội và quản trị, cho thấy hệ thống chính sách đang dần chuyển từ xác lập khái niệm sang chuẩn hóa cách triển khai.

Một danh mục phân loại thống nhất có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động tín dụng. Khi mỗi ngân hàng sử dụng một bộ tiêu chí khác nhau, cùng một dự án có thể được đánh giá theo nhiều cách, làm tăng chi phí thẩm định và gây khó khăn cho doanh nghiệp. Khi tiêu chuẩn được thống nhất, doanh nghiệp biết mình phải chuẩn bị dữ liệu gì, ngân hàng có cơ sở xây dựng quy trình thẩm định, còn nhà đầu tư dễ dàng so sánh hơn.

Tuy nhiên, danh mục xanh mới chỉ giải quyết câu hỏi dự án nào được xem là xanh. Với hệ thống tài chính, câu hỏi quan trọng hơn là dự án xanh đó có mức rủi ro bao nhiêu và nên được định giá vốn như thế nào.

Thị trường carbon sẽ thay đổi cách ngân hàng đánh giá rủi ro

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của thị trường carbon Việt Nam, từ khung pháp lý sang vận hành thực tế. Chính phủ đã thiết lập cơ chế tổ chức sàn giao dịch carbon và phân bổ hạn ngạch phát thải thí điểm cho các cơ sở thuộc ba ngành nhiệt điện, thép và xi măng. Tổng hạn ngạch được xác định ở mức 243,1 triệu tấn CO2 tương đương cho năm 2025 và 268,4 triệu tấn cho năm 2026.

Ngày 29/6/2026, Sàn giao dịch carbon trong nước được khai trương, đánh dấu bước tiến trong việc hình thành hạ tầng cho giao dịch hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Ý nghĩa của thị trường carbon đối với ngân hàng nằm ở chỗ phát thải bắt đầu trở thành một biến số tài chính. Doanh nghiệp sử dụng công nghệ phát thải cao có thể phải chịu thêm chi phí, trong khi doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch có thể giảm nghĩa vụ carbon hoặc tạo thêm giá trị kinh tế từ phần phát thải được cắt giảm.

Khi carbon có giá, phân tích tín dụng cũng sẽ phải thay đổi. Ngân hàng không chỉ nhìn vào doanh thu, lợi nhuận và tài sản bảo đảm mà còn phải đánh giá cường độ phát thải, chi phí carbon tiềm năng và khả năng chuyển đổi của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đang có tình hình tài chính tốt nhưng phụ thuộc vào công nghệ phát thải cao vẫn có thể đối mặt với chi phí lớn hơn trong tương lai. Khi đó, rủi ro carbon sẽ dần trở thành một phần của rủi ro tín dụng.

Để vốn xanh chảy mạnh, cần sự chia sẻ rủi ro của nhiều bên

Từ con số ước tính của World Bank về việc Việt Nam có thể cần thêm 368 tỷ USD đến năm 2040 cho quá trình thích ứng khí hậu và giảm phát thải có thể thấy sẽ không thực tế nếu kỳ vọng ngân hàng thương mại có thể tự mình cung cấp toàn bộ nguồn vốn cần thiết. Khơi thông vốn xanh vì vậy không nên được hiểu đơn giản là làm tín dụng xanh tăng nhanh hơn, mà là xây dựng một cơ chế để những dự án tốt cho môi trường đồng thời trở thành những dự án đủ tốt về tài chính để thu hút vốn.

Danh mục xanh giúp xác định dự án nào đủ tiêu chuẩn, thị trường carbon đưa chi phí phát thải vào bài toán tài chính, còn trái phiếu xanh, quỹ đầu tư và cơ chế chia sẻ rủi ro giúp bổ sung nguồn vốn dài hạn bên cạnh ngân hàng. Khi những cấu phần này vận hành đồng bộ, doanh nghiệp càng minh bạch dữ liệu, càng giảm được phát thải và càng chứng minh được hiệu quả kinh tế thì càng có khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.

Điều cần thiết hơn là xây dựng một cấu trúc tài chính; trong đó, từng nhóm nhà đầu tư đảm nhận phần rủi ro phù hợp. Ngân hàng có thể tài trợ cho phần dự án có dòng tiền ổn định, thị trường trái phiếu cung cấp nguồn vốn dài hạn, các quỹ đầu tư và vốn chủ sở hữu chấp nhận rủi ro cao hơn ở giai đoạn đầu, trong khi các tổ chức tài chính phát triển hoặc cơ chế bảo lãnh có thể hỗ trợ chia sẻ một phần rủi ro.

Đây cũng là vai trò của blended finance (tài chính kết hợp), trong đó nguồn vốn công hoặc vốn ưu đãi được sử dụng để giảm rủi ro và thu hút thêm nguồn vốn thương mại. Nếu các cơ chế này phát triển đồng bộ, doanh nghiệp sẽ có nhiều lựa chọn tài trợ hơn, còn ngân hàng không phải đưa toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn của quá trình chuyển đổi lên bảng cân đối của mình.

Câu hỏi lớn nhất của tài chính xanh trong những năm tới có lẽ không phải ngân hàng sẽ dành thêm bao nhiêu nghìn tỷ đồng cho tín dụng xanh, mà là Việt Nam có thể tạo ra bao nhiêu dự án xanh thực sự có khả năng được tài trợ. Khi có đủ dự án tốt, tiêu chuẩn minh bạch, dữ liệu đáng tin cậy, thị trường carbon có khả năng định giá phát thải và nhiều nhà đầu tư cùng chia sẻ vốn cũng như rủi ro, dòng tiền sẽ tự tìm tới những dự án hiệu quả. Khi đó, khơi thông dòng vốn xanh mới thực sự trở thành một cơ chế phân bổ vốn mới của nền kinh tế.

Lê Hoài Ân - CFA

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục