Khơi thông dòng tiền từ hoàn thuế tự động

(ĐTCK)  Hoàn thuế tự động đang được kỳ vọng rút ngắn thời gian xử lý và đưa nguồn tiền được hoàn trở lại doanh nghiệp nhanh hơn. Chính sách này không chỉ giảm chi phí tuân thủ, mà còn góp phần khơi thông dòng vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tiền thuế được hoàn sớm giúp doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động, mua nguyên vật liệu, đầu tư máy móc, thực hiện đơn hàng mới và mở rộng sản xuất

Rút ngắn thời gian hoàn thuế cho doanh nghiệp

Xuất phát từ yêu cầu quản lý chặt nguồn thu, chống thất thu ngân sách nhà nước, việc giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) được ngành thuế quản lý rất chặt chẽ, theo quy trình nghiêm ngặt. Theo đó, chỉ cần một hóa đơn có dấu hiệu rủi ro, toàn bộ hồ sơ hoàn thuế của doanh nghiệp có thể bị chuyển sang diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau. Điều này khiến thời gian giải quyết hoàn thuế có thể kéo dài, ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp.

Thông tin từ Cục Thuế cho thấy, việc giải quyết hoàn thuế bị kéo dài xuất phát từ ba nhóm nguyên nhân chính: Thứ nhất, do doanh nghiệp chưa lập đầy đủ, chính xác bộ hồ sơ theo quy định. Do đó khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan thuế phải yêu cầu doanh nghiệp giải trình, bổ sung hoặc doanh nghiệp tự xin rút hồ sơ để lập lại.

Thứ hai, một số hồ sơ hoàn thuế có dấu hiệu rủi ro liên quan đến hóa đơn, chứng từ thanh toán hoặc đối tác trung gian. Khi đó, cơ quan thuế phải gửi công văn xác minh tới các cơ quan liên quan như hải quan, ngân hàng, cơ quan công an hoặc cơ quan thuế quản lý doanh nghiệp đầu vào. Việc xác minh qua nhiều đầu mối có thể khiến thời gian xử lý hồ sơ kéo dài.

Thứ ba là những bất cập trong quy trình thao tác và quy định pháp lý. Một số nội dung như kê khai điều chỉnh các chỉ tiêu 37, 38 trong nghiệp vụ kế toán, hay xử lý số thuế đề nghị hoàn trùng lặp giữa các kỳ vẫn gây lúng túng trong thực tế.

Để giải quyết hồ sơ hoàn thuế kịp thời, đúng quy định, qua đó hỗ trợ dòng tiền trở lại với doanh nghiệp, tạo thêm nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, Cục Thuế đang xây dựng quy trình hoàn thuế GTGT tự động. Theo quy trình này, hệ thống cơ sở dữ liệu sẽ được kết nối tự động, tiến hành phân tích, đối chiếu và phân loại rủi ro. Cách làm này nhằm giảm tối đa sự can thiệp chủ quan của con người, đồng thời giúp cán bộ thuế tập trung vào những hồ sơ thực sự có rủi ro, cần kiểm tra và xác minh.

Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, ông Nguyễn Văn Thức, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc Công ty TNHH BCTC cho rằng, xây dựng quy trình hoàn thuế GTGT tự động là một bước cải cách cần thiết của ngành thuế, đặc biệt trong quá trình chuyển từ quản lý thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro.

Theo ông Thức, cần nhìn hoàn thuế GTGT ở góc độ rộng hơn việc giải quyết một thủ tục hành chính. Những trường hợp hoàn thuế lớn thường tập trung ở hoạt động xuất khẩu và các dự án đầu tư đáp ứng điều kiện pháp luật. Đây là những lĩnh vực mà chính sách thuế của Nhà nước hướng tới hỗ trợ xuất khẩu, khuyến khích đầu tư và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.

“Nếu khoản thuế đủ điều kiện hoàn được đưa trở lại doanh nghiệp sớm, nguồn tiền này có thể nhanh chóng bổ sung vốn lưu động, mua nguyên vật liệu, đầu tư máy móc, thực hiện đơn hàng mới và mở rộng sản xuất. Ngược lại, thời gian hoàn kéo dài sẽ làm giảm phần nào hiệu quả hỗ trợ vốn mà chính sách hướng tới”, ông Thức nói.

Vì vậy, theo ông Thức, giá trị của hoàn thuế tự động không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, mà còn giúp chính sách hỗ trợ xuất khẩu, đầu tư của Nhà nước đi nhanh hơn vào thực tế và phát huy hiệu quả tốt hơn.

Khơi thông dòng tiền, tăng vòng quay vốn

Tiền hoàn thuế được đưa trở lại doanh nghiệp sớm hơn thì nguồn vốn cũng sớm tạo ra vòng quay mới trong sản xuất, kinh doanh.

Một trong những lợi ích rõ nhất của việc tự động hóa quy trình hoàn thuế là giảm thời gian chờ và những khâu xác minh thủ công không thực sự cần thiết. Theo ông Thức, khi dữ liệu về hóa đơn điện tử, kê khai thuế, nghĩa vụ thuế, xuất nhập khẩu và các thông tin liên quan được kết nối, hệ thống có thể tự động đối chiếu ngay từ đầu. Những doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, dữ liệu minh bạch, hồ sơ không có dấu hiệu rủi ro sẽ có điều kiện được xử lý nhanh hơn.

Điều này mang lại lợi ích cho cả hai phía. Doanh nghiệp giảm thời gian chờ đợi và chi phí tuân thủ, trong khi cơ quan thuế giảm khối lượng công việc thủ công để tập trung nguồn lực vào những hồ sơ, giao dịch thực sự có dấu hiệu rủi ro.

“Để công nghệ xử lý những trường hợp có thể tự động hóa, còn nguồn lực con người tập trung vào những trường hợp thực sự cần kiểm tra, xác minh. Đây là hướng cải cách tích cực", ông Thức nói.

Từ góc độ dòng tiền, tác động của việc hoàn thuế chậm thể hiện rõ nhất đối với doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp đang trong giai đoạn đầu tư. Doanh nghiệp xuất khẩu phải bỏ vốn mua nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ trong nước và thanh toán thuế GTGT đầu vào. Đối với các dự án đầu tư, doanh nghiệp cũng phải sử dụng lượng vốn lớn cho máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng và hình thành tài sản phục vụ sản xuất.

Nếu khoản thuế đủ điều kiện hoàn được giải quyết sớm, nguồn tiền đó có thể lập tức quay trở lại chu kỳ kinh doanh. Doanh nghiệp có thêm vốn để mua nguyên liệu, thanh toán cho nhà cung cấp, trả lương, thực hiện đơn hàng hoặc tiếp tục đầu tư. Nếu phải chờ lâu, doanh nghiệp có thể phải sử dụng thêm vốn vay để bù đắp và phát sinh chi phí tài chính.

“Đặc biệt, với doanh nghiệp xuất khẩu có số thuế được hoàn lớn và phát sinh thường xuyên, tốc độ hoàn thuế có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ quay vòng vốn. Tiền hoàn được đưa trở lại doanh nghiệp sớm hơn thì nguồn vốn cũng sớm tạo ra vòng quay mới trong sản xuất, kinh doanh”, ông Thức nói.

Theo ông Thức, đẩy nhanh hoàn thuế đúng đối tượng cũng chính là khơi thông một nguồn vốn cho doanh nghiệp và góp phần làm cho cơ chế hỗ trợ xuất khẩu, đầu tư thông qua chính sách thuế phát huy hiệu quả thực tế.

Một điểm quan trọng khác trong quy trình hoàn thuế tự động là phân tích và phân loại rủi ro. Theo ông Thức, quản lý rủi ro hiện đại không có nghĩa là kiểm tra tất cả doanh nghiệp, tất cả hóa đơn với mức độ như nhau, mà phải giúp cơ quan thuế xác định đúng rủi ro và tập trung nguồn lực kiểm tra đúng nơi có rủi ro.

Chẳng hạn, một hồ sơ hoàn thuế có hàng nghìn hóa đơn, nếu hệ thống phát hiện một số hóa đơn hoặc một nhà cung cấp có dấu hiệu bất thường cần xác minh thì nên khoanh vùng để kiểm tra, làm rõ phần đó. Đối với phần còn lại đã có dữ liệu đầy đủ, minh bạch và đủ điều kiện, cần có cơ chế xử lý phù hợp, tránh để một số ít hóa đơn có dấu hiệu rủi ro làm chậm toàn bộ khoản thuế được hoàn.

“Nếu hệ thống phân tích dữ liệu đủ tốt, cơ quan thuế có thể vừa nhận diện các chuỗi giao dịch bất thường để phòng, chống gian lận, vừa phân loại nhanh những doanh nghiệp tuân thủ tốt để giải quyết hồ sơ thuận lợi hơn. Nói ngắn gọn, rủi ro ở đâu thì kiểm soát sâu ở đó, phần minh bạch và đủ điều kiện thì cần được xử lý kịp thời. Như vậy vừa bảo vệ ngân sách nhà nước, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế”, ông Thức chia sẻ.

Dữ liệu là nền tảng của hoàn thuế tự động

Để hoàn thuế tự động thực sự trở thành giải pháp khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp, các chuyên gia cho rằng yếu tố quan trọng nhất là dữ liệu phải đầy đủ, chính xác, đồng bộ và có khả năng kết nối. Dữ liệu về hóa đơn điện tử, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan, thanh toán và những thông tin cần thiết khác càng được kết nối tốt thì hệ thống càng có khả năng tự động đối chiếu và nhận diện rủi ro chính xác.

Bên cạnh đó, các tiêu chí quản lý rủi ro cần thường xuyên được cập nhật. Doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, giao dịch minh bạch, dữ liệu nhất quán cần được tạo điều kiện xử lý nhanh, trong khi nguồn lực kiểm tra nên tập trung vào những đối tượng, giao dịch thực sự có dấu hiệu bất thường.

Hệ thống cũng nên tiến tới khả năng cảnh báo sớm cho doanh nghiệp khi phát hiện dữ liệu chưa khớp hoặc hóa đơn, nhà cung cấp có dấu hiệu rủi ro. Khi được cảnh báo sớm, doanh nghiệp có thể chủ động kiểm tra, giải trình hoặc hoàn thiện hồ sơ, thay vì đến giai đoạn xử lý hồ sơ hoàn mới phát sinh quá trình xác minh kéo dài.

Một yếu tố quan trọng khác là cơ chế phối hợp. Khi thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan nhà nước thì cần tận dụng tối đa, hạn chế yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại nhiều lần cùng một thông tin.

“Tôi đánh giá cao định hướng của Cục Thuế khi chuyển mạnh sang quản lý dựa trên dữ liệu và phân loại rủi ro. Nếu quy trình hoàn thuế tự động được triển khai đồng bộ, doanh nghiệp tuân thủ tốt sẽ được hoàn thuế nhanh hơn, cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào đúng khu vực rủi ro, ngân sách vẫn được bảo vệ và dòng vốn được đưa trở lại sản xuất, kinh doanh nhanh hơn”, ông Thức nói.

Nhật Minh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục