Hiến kế hạ lãi suất

Luôn theo đuổi quan điểm để nền kinh tế phát triển thì lãi suất tín dụng của hệ thống ngân hàng phải linh hoạt và duy trì ở mức thấp nhất có thể nhằm cung ứng cấp thời nguồn vốn cho DN, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành đã kiến giải những cách thức để các NHTM có thể đạt tới việc giảm lãi suất tín dụng, trong sự cân đối mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Những quyết sách mới đây của NHNN cho thấy sự quyết tâm trong việc hạ mặt bằng lãi suất nhằm giúp DN vượt qua khó khăn, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Những quyết sách mới đây của NHNN cho thấy sự quyết tâm trong việc hạ mặt bằng lãi suất nhằm giúp DN vượt qua khó khăn, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Sở dĩ lãi suất cho vay cao như hiện nay là do một số NHTM đã lạm dụng kẽ hở của các cơ quan quản lý để tăng lãi suất huy động, rồi đẩy lãi suất cho vay lên vượt trần quy định. Hệ lụy là trật tự của hoạt động NHTM bị phá vỡ, đua nhau đẩy lãi suất huy động và lãi suất cho vay, khiến chi phí sản xuất tăng vọt, giá thành leo thang, chỉ số giá tiêu dùng bốc cao.

 

Vay vốn từ định chế tài chính quốc gia

 

Để hạ lãi suất, vai trò của NHNN là nhanh chóng chấm dứt tình trạng hỗn loạn này bằng cách cung ứng lượng tiền cần thiết, cho NHTM vay vốn với lãi suất hợp lý để NHTM không còn nhu cầu tranh đua huy động vốn. Lãi suất trên thị trường sẽ tức khắc hạ nhiệt.

Nhiều người hỏi rằng Nhà nước lấy đâu ra tiền để cho NHTM vay với lãi suất thấp khi chính bản thân Chính phủ phải đi vay với lãi suất cao? Câu hỏi này phát sinh từ sự nhầm lẫn giữa vai trò và quyền hạn của Chính phủ là một cơ quan hành pháp, và NHNN là một định chế tài chính quốc gia có trách nhiệm và quyền hạn điều tiết lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế. Chính phủ chỉ có quyền chi tiêu trong giới hạn của ngân sách được Quốc hội phê duyệt hàng năm. Trên nguyên tắc, trừ những trường hợp cá biệt, Chính phủ không có quyền hạn cho vay hoặc sử dụng ngân sách ngoài các lĩnh vực được Quốc hội thông qua. Còn NHNN là một định chế tài chính quốc gia được Luật pháp (Luật về NHNN) trao quyền phát hành tiền bạc và tín dụng không hạn định, mà nhiệm vụ là bảo đảm lưu lượng cần thiết cho nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, không nhiều quá để sinh ra lạm phát khiến giá cả leo thang, và không ít quá để sinh ra thiểu phát khiến cho hoạt động kinh tế đình đốn.

 

Vì NHNN có quyền phát hành và không phải huy động vốn từ trong nhân dân nên không có lãi suất huy động, do vậy NHNN có khả năng cung ứng cho NHTM lượng tiền cần thiết với lãi suât thấp để NHTM cho DN vay lại với lãi hợp lý. Vấn đề là làm thế nào để điều tiết lượng tiền đầy đủ, không nhiều quá và cũng không ít quá, để bảo đảm kiềm chế lạm phát.

 

Kiểm soát chất lượng dòng tiền

 

Một chương trình cấp vốn cho hệ thống NHTM từ NHNN, có thể được triển khai căn cứ trong giới hạn tăng trưởng tín dụng đã quy định 20%, với mức lãi suất 3-4% để NHTM cho DN vay lại với lãi suất 7-8%. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được, tùy thuộc vào phương thức thực hiện, và sự kiểm soát dòng tiền để không chảy qua lĩnh vực phi sản xuất, đầu cơ, gây ra lạm phát.

 

Với một nguồn tín dụng ổn định, lãi suất vay hợp lý, DN sẽ phát triển ổn định, chi phí đầu vào giảm, giá thành sản phẩm thấp, giá thành dịch vụ thấp, giá bán ra giảm sẽ dẫn đến hạ chỉ số giá tiêu dùng, giảm áp lực lạm phát.

 

Với một nền kinh tế phát triển ổn định, hàng hóa nội địa dồi dào, chất lượng cao sẽ dẫn đến tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu, giảm nhập siêu, tăng dự trữ ngoại tệ, ổn định tỷ giá, và dần dần nâng cao hệ số tín nhiệm của VN trên thị trường tài chính thế giới, tạo đà cho VN tiếp cận nguồn vốn quốc tế với lãi suất hợp lý, điều kiện cốt yếu đưa nền kinh tế VN lên một tầng cao mới, hội nhập kinh tế thế giới.

 

Với vai trò là định chế quản lý lưu lượng tiền tệ và tín dụng. NHNN có trách nhiệm cung ứng đầy đủ lưu lượng tiền tệ, tín dụng cho nền kinh tế. Và cần có thông tin dữ liệu hằng ngày về lưu lượng tiền tệ cần thiết trong nền kinh tế, cũng như bác sĩ cần lấy huyết áp mỗi ngày để biết người vận động viên có đầy đủ sức khỏe để thi đấu hiệu quả nhất.

 

Nếu NHNN đưa ra một chương trình lãi suất thấp, NHNN cần quy định các tiêu chí để hệ thống NHTM chấp hành khi cho DN vay với lãi suất thấp. Các quy định đó có thể bao gồm: Cho vay theo dự án, không cho vay theo đối tượng. Chỉ những dự án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả kinh tế cao, có đủ khả năng hoàn trả vốn và lãi, góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng xuẩt khâu, phát sinh nguồn ngoai tệ... ; Chỉ giải ngân theo tiến độ, không giải ngân một lúc toàn bộ số vốn vay, để tránh nguy cơ DN chuyển hướng vốn vay vào mục đích khác, trái với mục đính của chính sách là ưu tiên cho sản xuất kinh doanh; NHTM có trách nhiệm giám định từng dự án cho vay, theo đúng chỉ tiêu và quy định của chương trình; Các NHTM phải đăng ký tham gia chương trình, và cam kết tuân thủ tất cả các quy định của chương trình. NHTM nào vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm trọng. NHNN sẽ quy định các biện pháp chế tài nghiêm nhặt, ví dụ như phạt hành chính đến mức 20% tổng số tiền cho vay, yêu cầu thu hồi ngay số tiền cho vay sai quy định trong thời hạn không quá 30 ngày sau ngày có quyết định của NHNN, cảnh cáo, rồi nếu không tuân thủ quyết định của NHNN hay tái vi phạm sẽ rút giấy phép; Các lãnh đạo NHTM sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các gian lận, tiêu cực, cố tình vi phạm các quy định của chương trình, “gây thiệt hai trầm trọng cho tài sản của Nhà nước”, làm lũng đoạn chính sách của Nhà nước. Các biện pháp chế tài phải đủ sức răn đe để tránh khả năng vi phạm. Và khi phát hiện dấu hiệu vi phạm NHNN phải nhanh chóng thanh tra và xử lý. Quyết định của NHNN là quyết định cuối cùng, không có khiếu nại hay khiếu kiện. NHTM nào thấy không đồng ý, không nhất thiết phải đăng ký tham gia vào chương trình này.

 

Bàn về Thông tư 22

 

Về Thông tư 22/2011/TT-NHNN ban hành ngày 1/9/2011, với nội dung “hủy bỏ tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động quy định tại Thông tư 13/2010/TT - NHNN, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 19/2010/TT-NHNN, nhằm tạo sự luân chuyển và điều hòa vốn giữa thị trường I và thị trường II, giữa TCTD thừa vốn và TCTD thiếu vốn, giúp các TCTD thiếu vốn có điều kiện tăng trưởng tín dụng trong giới hạn 20% và hạ lãi suất cho vay”, tôi cho rằng quyết định này của NHNN nên được xem xét. Mục đích là tìm cách hạ lãi suất cho vay, nhưng phương án của NHNN lại chưa hợp lý, vi phạm các quy định, chức năng của thị trường liên ngân hàng, và không công bằng  đối với các NH thừa vốn vì quản lý tốt. Có thể thấy điều đó qua một số yếu tố sau:

 

Nếu các NH lớn “thừa vốn” là vì bị hạn chế bởi định mức tăng tín dụng 20%, có tiền mà không cho vay được vì đã chạm trần hạn mức tăng trưởng 20%; còn các NHTM nhỏ “thiếu vốn” vì không huy động được đủ vốn trong dân, và vì đó mà không có khả năng cho vay để đạt được mức tăng trưởng tín dụng 20%.

 

Vậy thì với phương án trên, NHNN đã cào bằng tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, mà vì các NH nhỏ “thiếu vốn” để thực hiện tăng trưởng tín dụng, NHNN lại cào vốn (luân chuyển điều hòa vốn) từ các NH lớn qua cho các NH nhỏ để làm giảm áp lực NHTM nhỏ phải huy động với lãi suất cao. NHNN dự kiến rằng với phương án này NHTM “thiếu vốn” sẽ không phải chạy ngược chạy xuôi huy động vốn với lãi suất cao, và như vậy có thể cho vay với lãi suất thấp từ nguồn vốn của thị trường liên ngân hàng. Nhưng chức năng của thị trường liên ngân hàng là giải quyết ngắn hạn, một ngày, hay một tuần lễ, thanh khoản của các NHTM tạm thời thiếu vốn để đáp ứng các quy định của Luật ngân hàng về dự trữ bắt buộc, và các hệ số an toàn khác của hoạt động ngân hàng.  Thị trường liên ngân hàng  (thị trường I và thị trường II) không có chức năng tạo nguồn vốn cho các NHTM “thiếu vốn” được vay vốn để cho DN vay lại. Hoạt động này, và quyết định của NHNN là vi phạm quy luật hoạt động của thị trường liên ngân hàng.

 

Hơn nữa, tiền lệ này rất là nguy hiểm. Vay trên thị trường liên ngân hàng với thời hạn rất ngắn để cho DN vay lại với thời hạn dài hơi, là vi phạm quy luật hoạt động của hệ thống NH. Mặt khác, các DN khách hàng của những NH “thiếu vốn” này phần lớn là những DN yếu, chấp nhận trả lãi suất cao, tức là nhiều rủi ro, và khả năng thanh toán nợ kém, tỷ lệ nợ xấu cao. Trong trường hợp các NHTM “thiếu vốn” không thu hồi được nợ để trả lại cho các NHTM “thừa vốn”, cả hệ thống NHTM có nguy cơ bị sụp đổ, do việc quản lý rủi ro kém từ các NHTM “thiếu vốn”.

 

Theo báo cáo của NHNN tỷ lệ nợ xấu đã lên đến mức báo động, có ngân hàng đã ở mức gần 7% (theo cách tính nợ xấu của VN), và theo ước tính của nhiều chuyên gia độc lập thì tỷ lệ này đã vượt con số 10%, có nghĩa là hệ thống NHTM VN nói chung đang hoạt động với tỷ lệ vốn tự có âm.

 

Trong tháng 8, S&P đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của tiền đồng VN. Mới đây Moodys cũng lên tiếng cảnh báo về chất lượng tài sản và cái nhìn tiêu cực về triển vọng dài hạn của các NHTM VN. Qua những phân tích trên đây, đánh giá của S&P và Moodys là có lý do. NHNN nên tăng cường mạnh mẽ hơn nữa thanh tra và kiểm tra hoạt động của hệ thống NHTM VN. Với tỷ lệ vốn tự có đang có nguy cơ bị hao mòn thì hệ thống NHTM VN cần được cơ cấu lại càng sớm càng tốt.

 


DDDN

Tin cùng chuyên mục