Hà Nội ưu tiên sản phẩm công nghệ số do doanh nghiệp Việt làm chủ

Hà Nội quy định cụ thể cơ chế hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, ưu tiên công nghệ do doanh nghiệp Việt Nam tự phát triển hoặc làm chủ.
Hình minh họa.

Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Vũ Đại Thắng đã ký ban hành Quyết định số 135/2026/QĐ-UBND về việc quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 của HĐND TP. Hà Nội.

Quyết định này quy định chi tiết và biện pháp tổ chức thi hành các cơ chế, chính sách quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026 của HĐND TP. Hà Nội quy định chính sách thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trên địa bàn TP. Hà Nội (Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND).

Đối tượng áp dụng là UBND Thành phố, các Sở, ban, ngành; UBND xã, phường; cơ quan, đơn vị quản lý nguồn lực, vận hành hệ thống hoặc thực hiện nhiệm vụ liên quan đến các chính sách quy định tại Điều 1 Quyết định này. Các đối tượng thụ hưởng chính sách quy định tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý, thực hiện, thanh toán, kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ theo Quyết định này.

Việc xem xét, đưa sản phẩm, dịch vụ vào Danh mục hỗ trợ phải bảo đảm các nguyên tắc về công khai, minh bạch, khách quan, bình đẳng; lựa chọn theo công dụng, tính năng, mức độ phù hợp và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của nhóm đối tượng được hưởng chính sách; bảo đảm cạnh tranh về chất lượng, giá, điều kiện cung cấp, chế độ bảo hành, bảo trì và hỗ trợ kỹ thuật phù hợp với tính chất của sản phẩm, dịch vụ; không đặt ra yêu cầu nhằm tạo lợi thế bất hợp lý cho một nhà cung cấp, sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể. Thực hiện theo nguyên tắc tăng "hậu kiểm", giảm "tiền kiểm", tự động hóa.

Sản phẩm, dịch vụ được xem xét đưa vào Danh mục hỗ trợ khi đáp ứng các điều kiện thuộc phạm vi sản phẩm, dịch vụ quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND; được cung cấp và sử dụng hợp pháp tại Việt Nam; đáp ứng điều kiện kinh doanh và yêu cầu của pháp luật chuyên ngành, nếu có. Xác định rõ đối tượng sử dụng, phạm vi, phương thức, thời gian và điều kiện cung cấp, kết quả đầu ra và phương thức xác nhận, đối soát phù hợp với tính chất của sản phẩm, dịch vụ. Giá đề nghị đưa vào Danh mục hỗ trợ phải là giá được công khai và có căn cứ xác định; là giá sau khi trừ các khoản giảm giá, chiết khấu, khuyến mại hoặc ưu đãi.

Đáp ứng yêu cầu của pháp luật về an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân tương ứng với tính năng, phạm vi cung cấp và hoạt động tiếp cận, xử lý dữ liệu, hệ thống thông tin, nếu có. Có khả năng cập nhật, cung cấp hoặc chia sẻ với Hệ thống các thông tin, dữ liệu, tài liệu điện tử cần thiết để phục vụ việc quản lý và sử dụng phiếu hỗ trợ.

Trong quá trình xét chọn được xem xét ưu tiên sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp Việt Nam tự xây dựng, phát triển hoặc làm chủ công nghệ; sử dụng tiêu chuẩn mở, có khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu; sử dụng công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng; có đóng góp nguồn lực xã hội hóa, giảm giá hoặc cung cấp thêm quyền lợi cho đối tượng thụ hưởng; đã đạt các giải thưởng, chứng nhận uy tín.

Việc đưa sản phẩm, dịch vụ vào Danh mục hỗ trợ không phải là chứng nhận hoặc bảo đảm của Thành phố về chất lượng, hiệu quả, tính pháp lý của sản phẩm, dịch vụ. Nhà cung cấp chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, hiệu quả, tính pháp lý của sản phẩm, dịch vụ và việc thực hiện các nghĩa vụ đã công bố.

Sở Khoa học và Công nghệ có thể xây dựng cơ chế chấm điểm, xếp hạng để lựa chọn trong trường hợp có nhiều sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp cùng đáp ứng các điều kiện đưa vào Danh mục hỗ trợ, bảo đảm việc lựa chọn được thực hiện công khai, minh bạch, khách quan, công bằng và có khả năng kiểm chứng, gắn với mục tiêu hỗ trợ và hiệu quả sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục