Hạ nhiệt thanh khoản
Từ quý IV/2025, áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng nóng dần, đặc biệt trong quý đầu năm nay - hệ quả trực tiếp khi tăng trưởng tín dụng ghi nhận mức cao kỷ lục (19,1% trong năm 2025), song tốc độ tăng trưởng huy động vốn không theo kịp. Để thu hút nguồn tiền gửi, cân đối nguồn vốn cho vay, các nhà băng đã bước vào cuộc đua tăng lãi suất tiết kiệm. Mặt bằng lãi suất tăng mạnh so với trước, thậm chí, mức lãi suất huy động hơn 9,0%/năm đã xuất hiện tại một số nhà băng, trước khi điều chỉnh nhẹ theo yêu cầu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về triển khai các giải pháp hạ lãi suất vào đầu tháng 4. Thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu áp lực, mặt bằng lãi suất neo cao là một trong những lý do quan trọng khiến tâm lý trên thị trường chứng khoán trở nên thận trọng hơn, với thanh khoản chỉ quanh mức 20.000 - 25.000 tỷ đồng.
Thông tin được ông Quản Trọng Thành, Giám đốc Phân tích Công ty Chứng khoán Maybank (MSVN) chia sẻ, từ đầu năm tới nay, huy động tiền gửi truyền thống của 17 ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi của MSVN (gồm BID, CTG, VCB, MBB, VPB, TCB, ACB, STB, SHB, HDB, LPB, VIB, TPB, SSB, EIB, MSB, OCB) chỉ tăng khoảng 0,5%, trong khi nguồn vốn huy động qua phát hành giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu lại tăng từ 10 - 11%.
Các con số trên cho thấy các ngân hàng không hẳn thiếu vốn tuyệt đối, nhưng đang phải xoay sang những kênh huy động vốn có chi phí đắt hơn để duy trì thanh khoản và tăng trưởng tín dụng. Theo đó, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) và các chỉ số thanh khoản (như tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn) vẫn đảm bảo tuân thủ quy định, nhưng các chỉ số sinh lời của ngành ngân hàng đang đối mặt với nhiều áp lực.
Theo MSVN, NIM bình quân của 17 ngân hàng trên đã giảm khoảng 20 điểm cơ bản, xuống quanh mức 3%, do chi phí vốn bình quân đầu vào tăng nhanh hơn lợi suất tài sản cho vay, trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn và lạm phát tăng cao.
Trở lại với việc Thông tư 08/2026/TT-NHNN mới được ban hành, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, thông tư này đã bổ sung 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cấu phần tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước (thị trường 1) của các ngân hàng trong cách tính tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR).
Trước đó, Thông tư 22/2019/TT-NHNN kết hợp với các sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN đã loại bỏ hoàn toàn khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước trong cấu phần tiền gửi của các tổ chức tại ngân hàng kể từ ngày 1/1/2026. Quy định này khiến một số thời điểm, khi tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tăng cao, nguồn tiền gửi của các tổ chức tín dụng sụt xuống, tạo áp lực lên thanh khoản của các ngân hàng.
Theo ước tính của MBS Research, quy định mới tại Thông tư 08/2026/TT-NHNN giúp cải thiện tỷ lệ LDR tại các ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối, do nhóm này sở hữu phần lớn lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước. Ba ngân hàng Vietcombank, BIDV và VietinBank có thể giảm tỷ lệ LDR từ 1,1 - 1,5% so với trước khi Thông tư 08/2026/TT-NHNN được ban hành.
Ngoài ra, MBS Research ước tính, quy định mới có thể giúp bổ sung dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại toàn hệ thống.
Đồng quan điểm, ông Vũ Thế Quân, Phó phòng Nghiên cứu và Phân tích, Công ty Chứng khoán Vietcap cho rằng, các ngân hàng Vietcombank, BIDV và VietinBank sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ Thông tư 08/2026/TT-NHNN. Thanh khoản hệ thống ngân hàng nói chung cũng sẽ được hỗ trợ gián tiếp mặc dù mức độ ảnh hưởng có thể sẽ không quá lớn.
Cần lộ trình chuẩn bị bộ đệm thanh khoản cho Basel III
Nhận định về động thái chính sách mới của Ngân hàng Nhà nước, chuyên gia SSI Research cho rằng, việc cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tiền gửi của khách hàng tổ chức có thể mang lại tác động hỗ trợ có chọn lọc đối với nhóm ngân hàng quốc doanh và góp phần giảm áp lực thanh khoản hệ thống, khi phần 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được bổ sung tương đương khoảng 1,4 - 2% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng này. Quy định này chỉ mang lại tác động nhỏ ở cấp độ toàn hệ thống, với khoảng 0,6% dư nợ tín dụng.
Chuyên gia SSI cũng nhấn mạnh, nội dung chính của Thông tư 08/2026/TT-NHNN là điều chỉnh cách tính LDR hiện hành, mà chưa đưa vào cơ chế CDR (tỷ lệ cấp tín dụng trên huy động) - được đề xuất trong dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN, đang được lấy ý kiến các tổ chức tín dụng.
Gần đây, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN thu hút sự quan tâm đặc biệt của thị trường. Mục tiêu cốt lõi của việc sửa đổi thông tư này, theo Ngân hàng Nhà nước, là nhằm phản ánh chính xác hơn tương quan giữa tổng dư nợ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động. Trong đó, điểm thay đổi lớn nhất trong dự thảo sửa đổi Thông tư 22 là chuyển từ việc tính LDR sang CDR (tỷ lệ cấp tín dụng trên huy động), trần giới hạn vẫn giữ ở mức 85%.
![]() |
Ghi chú: Việc tính toán dựa trên số liệu tại BCTC do Ngân hàng công bố. Số liệu có thể chưa sát với con số Ngân hàng tính toán do thông tin trên BCTC không có phần dư nợ cho vay bằng nguồn ủy thác được loại trừ ra khỏi tổng dư nợ. |
Điểm khác biệt trong công thức tính tỷ lệ CDR là phần tín dụng sẽ bao gồm dư nợ cấp tín dụng cho khách hàng, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp và các khoản ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cấp tín dụng; còn phần vốn huy động sẽ loại trừ khoản tiền gửi liên ngân hàng.
Theo bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt, Tổ trưởng Nghiệp vụ, Trung tâm Phân tích Công ty Chứng khoán SHS, nguồn vốn liên ngân hàng hiện chiếm trên 18% tổng nợ phải trả toàn hệ thống, tương đương khoảng 3,5 triệu tỷ đồng tại cuối quý I/2026. Nếu phần vốn này bị loại khỏi cơ sở tính toán CDR, nhiều ngân hàng sẽ mất đi phần đáng kể nguồn vốn đang được sử dụng trong thực tế để quản lý thanh khoản.
Chuyên gia SHS cho biết, khi tính thử CDR theo dự thảo, dựa trên số liệu báo cáo tài chính quý I/2026, tất cả các ngân hàng đều có tỷ lệ CDR tăng so với LDR và khá nhiều ngân hàng không đáp ứng được yêu cầu về mức trần 85% ở thời điểm hiện tại. Nếu áp dụng, quy định này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng tín dụng của nhiều ngân hàng.
SHS Research dự báo, nếu loại trừ nguồn vốn liên ngân hàng khỏi cơ sở tính toán CDR, các ngân hàng sẽ buộc phải tập trung mạnh hơn vào huy động ở thị trường 1, từ đó thu hẹp vai trò phân bổ vốn của thị trường 2. Điều này có thể làm suy yếu kênh truyền dẫn lãi suất từ NHNN qua nghiệp vụ thị trường mở tới thị trường liên ngân hàng và sang lãi suất huy động trên thị trường 1, làm giảm hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ.
Tuy vậy, không phải ngân hàng nào cũng chịu tác động như nhau. Chính điểm này khiến dự thảo, nếu được áp dụng, sẽ tạo ra một đợt phân hóa rõ hơn trong ngành.
Ông Quản Trọng Thành phân tích, những ngân hàng hiện có tỷ lệ an toàn vốn (CAR) cao, nền tảng huy động mạnh và ít phụ thuộc vào nguồn vốn liên ngân hàng sẽ có vị thế tốt hơn trong việc đáp ứng các tỷ lệ an toàn mới. Đặc biệt, các ngân hàng thương mại nhà nước lớn như Vietcombank, VietinBank có lợi thế nếu đề xuất cách tính mới về CDR được thông qua, vì đây là nhóm cho vay ròng quy mô lớn trên thị trường liên ngân hàng.
Trong khi đó, về trung và dài hạn, nhóm có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) thấp, phụ thuộc lớn vào vốn liên ngân hàng và đang duy trì tỷ lệ cho vay trên huy động ở mức cao sẽ có lúc phải chịu áp lực đáng kể trong việc tái cơ cấu bảng cân đối kế toán.
Nói cách khác, câu chuyện cạnh tranh trên thị trường ngân hàng trong tương lai không chỉ là ngân hàng nào tăng trưởng tín dụng nhanh hơn, mà là ngân hàng có khả năng tạo lập nguồn vốn bền hơn. Thanh khoản từ đây sẽ không còn là câu chuyện của lượng tiền đơn thuần, mà là của chất lượng thanh khoản.
“Nếu không có giai đoạn chuyển tiếp, CDR có thể trở thành ràng buộc bảng cân đối mang tính quyết định đối với các ngân hàng tăng trưởng cao, đặc biệt là những ngân hàng có CDR vượt 85%”, SSI Research nhận định.
Vietcap cho rằng, NHNN sẽ đặt ra lộ trình phù hợp để các ngân hàng dần đáp ứng các tiêu chuẩn theo khung Basel III và việc này hoàn toàn khả thi. Một số ngân hàng cũng đã sớm có những bước chuẩn bị về mặt dữ liệu để tính toán chính xác các tỷ lệ mới và xa hơn là điều chỉnh chiến lược cho vay và huy động theo hướng ổn định, bền vững hơn nhằm hướng tới việc đáp ứng các tỷ lệ an toàn theo chuẩn quốc tế.
Nhu cầu vốn lớn của ngành ngân hàng không phải là mới, mà đã là thách thức xuyên suốt trong nhiều năm qua khi nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng kênh dẫn vốn chính vẫn phụ thuộc vào ngành ngân hàng. Việc các ngân hàng liên tục tìm kiếm các kênh huy động vốn ở cả vốn chủ sở hữu hay vốn vay từ các định chế tài chính từ nước ngoài sẽ tiếp tục là chiến lược quan trọng để củng cố nguồn lực cho hoạt động tín dụng, đặc biệt khi huy động trên thị trường 1 còn khó khăn.
