Bất ổn Trung Đông khiến doanh nghiệp trở nên thận trọng hơn, dẫn tới khả năng trì hoãn đầu tư, sản xuất, ảnh hưởng tới tăng trưởng GDP. Ảnh: Đ.T
Lo hệ lụy từ bất ổn Trung Đông
Xung đột quân sự ở Trung Đông đã kéo dài gần 3 tuần, kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam, đã chịu những tác động không nhỏ. Những điều dễ thấy nhất là giá xăng dầu tăng cao, nguy cơ tác động tới lạm phát; tỷ giá VND/USD chịu nhiều áp lực; xuất nhập khẩu, logistics, du lịch… bị ảnh hưởng.
Chuyên gia Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu BIDV, trong báo cáo vừa được công bố đã chỉ ra rằng, do yếu tố tâm lý, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cả người tiêu dùng đều trở nên thận trọng hơn, dẫn tới khả năng doanh nghiệp có thể trì hoãn đầu tư, sản xuất, kéo theo đơn hàng giảm, tiêu dùng giảm… Điều này sẽ ảnh hưởng tới xuất nhập khẩu, đầu tư, tăng trưởng GDP… của Việt Nam.
Theo nhóm nghiên cứu của chuyên gia Cấn Văn Lực, ở kịch bản cơ sở (xung đột chấm dứt trong 4-5 tuần, không lan quá rộng, xác suất xảy ra 50%), tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam có thể giảm 0,5-1 điểm phần trăm; còn ở kịch bản tiêu cực (xung đột kéo dài, eo biển Hormuz bị phong tỏa trong vài tháng), mức giảm có thể lên tới 2 điểm phần trăm.
Ở góc độ khác, dự báo của nhóm nghiên cứu cho rằng, tăng trưởng GDP sẽ chịu sức ép từ cả 3 phía: xuất khẩu ròng bị chậm lại, tiêu dùng và đầu tư trong nước suy giảm nhẹ do chi phí tăng, tâm lý thận trọng hơn. Theo đó, ở kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt 9,2-9,4%, giảm 0,6-0,8 điểm phần trăm so với trường hợp không có chiến sự; còn ở kịch bản tiêu cực, thậm chí là xấu, thì tăng trưởng GDP còn có thể giảm điểm hơn nữa.
Chưa thể sớm định lượng và khẳng định những tác động của xung đột quân sự ở Trung Đông tới kinh tế - xã hội Việt Nam, nhưng rõ ràng, khi kinh tế toàn cầu đối diện với những yếu tố bất định, kinh tế Việt Nam khó tránh vòng xoáy đó.
Nhóm nghiên cứu của chuyên gia Cấn Văn Lực chỉ ra rằng, trong ngắn hạn, ưu tiên cao nhất là không để cú sốc xăng dầu và đứt gãy chuỗi cung ứng chuyển thành cú sốc nguồn cung năng lượng, giá cả và tạo sức ép lớn lên lạm phát; xây dựng các kịch bản tăng trưởng, lạm phát gắn với các biện pháp điều hành khác nhau…
Trong dự báo mới nhất, các chuyên gia của Ngân hàng UOB mặc dù vẫn duy trì dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2026 sẽ đạt 7,5%, trong đó, quý I khả năng tăng trưởng khoảng 7%, song cũng chỉ ra những rủi ro mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt.
“Các rủi ro đến từ mức nền cao của năm trước, chính sách thuế của Mỹ chưa rõ ràng, bao gồm đề xuất thuế toàn cầu 10% và căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông”, ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB nói như vậy tại sự kiện “Triển vọng đầu tư năm 2026” mới đây.
Thực tế, đây cũng là những rủi ro được các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam tính đến. Trong báo cáo gửi Chính phủ hồi đầu tháng 3/2026, Bộ Tài chính cũng đề cập những yếu tố bất lợi mà nền kinh tế đang phải đối mặt: khoảng cách giữa mục tiêu tăng trưởng năm 2026 (10%) và dự báo cao nhất của các tổ chức quốc tế (7,6% của Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3 - AMRO) lên tới 2,4 điểm phần trăm; khủng hoảng tại Trung Đông đe dọa gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu, kịch bản giá dầu vượt 100 USD/thùng có thể gia tăng áp lực lên cán cân thương mại, lạm phát và dự trữ ngoại hối của Việt Nam; bất ổn chính sách thuế quan của Mỹ sẽ ảnh hưởng tới đầu tư, thương mại…
Trông vào động lực nào?
Ẩn số từ xung đột quân sự Trung Đông đang khiến triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng. Câu hỏi đặt ra là, trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế Việt Nam có thể trông đợi vào động lực tăng trưởng nào?
Sản xuất công nghiệp có lẽ là yếu tố đầu tiên. Ngân hàng UOB, trong báo cáo về tình hình kinh tế Việt Nam, luôn nhấn mạnh về việc ngành sản xuất chế biến, chế tạo đang tiếp tục đóng vai trò là động lực tăng trưởng chính.
Quý IV/2025, ngành này đã tăng tới 11,3% và trong cả năm 2025, đã tăng 10,5% - mức tăng trưởng mạnh nhất kể từ năm 2018. Hai tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.
Báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, 2 tháng đầu năm 2026, Chỉ số Sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn đáng kể so với mức tăng 7,5% của cùng kỳ. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt, tăng tới 11,5%, trong khi cùng kỳ năm 2025, mức tăng chỉ là 9,1%.
Cũng theo số liệu từ Cục Thống kê, IIP trong 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Trong Top 10 địa phương có IIP tăng cao trong 2 tháng đầu năm 2026, Sơn La tăng tới 43,1%; Ninh Bình tăng 33,1%. Trong khi đó, Phú Thọ tăng 32,5%; Lai Châu tăng 31,3%; Bắc Ninh tăng 21%; Nghệ An, Thanh Hóa đều tăng trên 16%... IIP của các địa phương này tăng cao đều nhờ vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và ngành sản xuất và phân phối điện tăng mạnh.
Duy trì đà tăng trưởng tích cực của các ngành công nghiệp sẽ tạo cú hích lớn cho tăng trưởng. Cùng với đó, tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là các dự án công nghệ cao để thúc đẩy động lực tăng trưởng mới; giải ngân vốn đầu tư công; kích cầu tiêu dùng...
Số liệu thống kê cho thấy, 2 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tiếp tục tăng trưởng tích cực 8,8% so với cùng kỳ, đạt 3,21 tỷ USD. Cùng với đó, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt gần 64.500 doanh nghiệp, tăng 29,4% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 851.900 tỷ đồng, tăng 20,1%. Nguồn lực từ đầu tư nước ngoài, đầu tư tư nhân trong nước và cả đầu tư công (trên 1 triệu tỷ đồng trong năm 2026) sẽ góp phần quan trọng bổ sung năng lực sản xuất cho nền kinh tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ở góc độ khác, nhóm nghiên cứu của chuyên gia Cấn Văn Lực chỉ ra rằng, trong ngắn hạn, ưu tiên cao nhất là không để cú sốc xăng dầu và đứt gãy chuỗi cung ứng chuyển thành cú sốc nguồn cung năng lượng, giá cả và tạo sức ép lớn lên lạm phát; xây dựng các kịch bản tăng trưởng, lạm phát gắn với các biện pháp điều hành khác nhau, trong đó phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và chính sách vĩ mô khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng…
Nỗ lực giữ nhịp tăng trưởng
Để ứng phó với những tác động của cuộc chiến ở Trung Đông và biến động địa chính trị toàn cầu, hàng loạt giải pháp đã được Chính phủ chỉ đạo thực hiện, bao gồm điều hành giá xăng dầu, chủ động xây dựng kịch bản tăng trưởng để ứng phó…
Mới đây, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có công điện về một số nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu năm 2026. Theo đó, Thủ tướng chỉ đạo, để chủ động thích ứng linh hoạt, kịp thời, phù hợp, hiệu quả với tình hình thế giới, khu vực, thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu góp phần thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2026 đạt từ 10% trở lên, các bộ, ngành, địa phương phải kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu; tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển sản xuất trong nước; đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao kinh tế, mở rộng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp thúc đẩy xuất khẩu…
Thực hiện các chỉ đạo từ Chính phủ, nhiều địa phương cũng đang nỗ lực để có thể giữ nhịp tăng trưởng. Nghệ An là một ví dụ. Lãnh đạo tỉnh này vừa yêu cầu các sở, ngành, các cấp khẩn trương triển khai nhiệm vụ năm 2026, đồng thời rà soát kịch bản tăng trưởng, thúc đẩy đầu tư công và tháo gỡ các điểm nghẽn trong sản xuất - kinh doanh, nhằm làm sao đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,5 - 11,5% trong năm nay.
Trong khi đó, Quảng Ninh đã điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng năm 2026 từ 12,5% lên trên 13% và đang nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để đạt mục tiêu này. Trong đó, giải ngân vốn đầu tư công được xác định là động lực dẫn dắt tăng trưởng. Địa phương này cũng đang nghiên cứu, rà soát để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới, có giá trị gia tăng cao, như kinh tế số, công nghệ cao, năng lượng tái tạo…
Trong khi đó, đầu tàu kinh tế TP.HCM đã xây dựng tới 3 kịch bản tăng trưởng kinh tế trước những biến động địa chính trị ở Trung Đông. Kịch bản do Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM xây dựng, nhằm đưa kinh tế TP.HCM đạt tốc độ tăng trưởng GRDP 10% trong năm nay.
Theo tính toán của viện này, để tăng trưởng GRDP của Thành phố đạt trên 10%, tăng trưởng GRDP trong 6 tháng đầu năm phải đạt ít nhất 10,3%. Để làm được điều đó, phải đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công ngay từ quý I, nhất là các dự án hạ tầng giao thông, logistics và các công trình trọng điểm quốc gia, địa phương.
Cùng với đó, thúc đẩy sản xuất công nghiệp và xuất khẩu; kích cầu tiêu dùng nội địa; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư tư nhân chất lượng cao; thúc đẩy kinh tế số và đổi mới sáng tạo; giữ vững ổn định kinh tế và kiểm soát rủi ro thông qua các biện pháp kiểm soát chỉ số giá, ổn định nguồn cung nhiên liệu, tăng cường dự trữ chiến lược, theo dõi sát diễn biến thuế quan của Mỹ và bảo đảm nguồn cung năng lượng, qua đó hạn chế các tác động bất lợi từ bối cảnh bên ngoài…