Được tiếp cận nguồn lực hợp lý, doanh nghiệp sẽ tối ưu hiệu quả

0:00 / 0:00
0:00
“Đây là thời điểm mà bàn tay của Nhà nước cần vỗ nhịp nhàng với bàn tay của thị trường. Cách tốt nhất thúc đẩy doanh nghiệp đưa vốn vào sản xuất - kinh doanh là môi trường đầu tư - kinh doanh thực sự minh bạch, an toàn, nguồn lực phân bổ dựa trên nguyên tắc thị trường”. TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam chia sẻ.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam

Thưa ông, đang nổi lên câu hỏi tại sao, doanh nghiệp Việt trong lĩnh vực chế biến, chế tạo chưa nhiều, năng lực cạnh tranh chưa cao, quy mô nhỏ hơn so với các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, tài chính, ngân hàng khi nhìn vào Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam?

Doanh nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam chủ yếu quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp hơn bất động sản hay tài chính trong Top 500 chủ yếu do đầu tư vào lĩnh vực chế biến chế tạo thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn, rủi ro cao, thời gian hoàn vốn dài, trong khi các lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính mang lại lợi nhuận nhanh và cao hơn.

Cơ chế phân bổ nguồn lực hiện nay cũng chưa thực sự hoàn hảo và do vậy, một lượng lớn nguồn lực của nền kinh tế như đất đai, tín dụng dễ dàng bị hút vào các lĩnh vực như bất động sản và tài chính. Do hấp lực đến từ khả năng sinh lời cao, các chủ thể của nền kinh tế dễ dàng bỏ vốn đầu tư, chấp nhận rủi ro cao để kỳ vọng mang lại lợi nhuận lớn trong thời gian ngắn. Tư duy phát triển bền vững và xây dựng năng lực cạnh tranh cốt lõi của các doanh nghiệp và nền kinh tế cũng cần thời gian để được củng cố, để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế và để họ đầu tư mạnh mẽ hơn, bài bản hơn với tầm nhìn dài hạn, chiến lược hơn vào những ngành như chế biến, chế tạo, công nghiệp trọng điểm.

Cụ thể thế nào, thưa ông?

Đầu tư vào sản xuất chế biến, chế tạo hay các ngành công nghiệp trọng điểm đòi hỏi vốn lớn cho nhà xưởng, máy móc và công nghệ cao. Các lĩnh vực này cũng đòi hỏi hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật, tri thức và chất xám cao và năng lực này cũng không dễ có thể hình thành, xây dựng một sớm một chiều. Trong khi đó, lợi nhuận của các ngành này thường thấp và mất nhiều thời gian hoàn vốn. Trong khi đó, các lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, thương mại mang lại tỷ suất lợi nhuận nhanh và lớn hơn, thu hút phần lớn nguồn vốn xã hội.

Một đặc điểm nữa là các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn phụ thuộc nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguồn linh kiện, nguyên nhiên vật liệu đầu vào để chế biến, chế tạo. Phương thức sản xuất chủ yếu vẫn là gia công chế biến. Phần lớn doanh nghiệp chế tạo của Việt Nam dừng lại ở mức gia công, lắp ráp. Nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào vẫn chiếm tỷ trọng cao nên giá trị gia tăng tạo ra thấp.

Ngoài ra, các doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong nước có nhiều hạn chế về công nghệ, khả năng nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo và năng lực quản trị. Vì lẽ đó, năng suất lao động thấp hơn so với các nước trong khu vực. Đội ngũ quản trị vẫn còn yếu, thiếu kinh nghiệm trong việc áp dụng phương thức quản trị hiện đại.

Ngành chế biến, chế tạo tại Việt Nam cũng đối diện với hạn chế do thiếu hụt công nghiệp hỗ trợ: Doanh nghiệp Việt Nam chưa thể tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, làm giảm khả năng cạnh tranh ngay trên sân nhà.

Trong khi đó, mối liên kết của các doanh nghiệp chế biến chế tạo với khu vực FDI và với các chuỗi cung ứng toàn cầu còn yếu. Mặc dù ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã được cải thiện đáng kể nhờ nguồn vốn FDI trong những thập kỷ vừa qua, nhưng liên kết giữa doanh nghiệp nội địa và FDI chưa chặt chẽ. Sự chuyển giao công nghệ giữa hai khu vực doanh nghiệp này gặp nhiều hạn chế.

Theo dõi các ý kiến, kiến nghị, đề xuất của các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong các cuộc gặp gần đây với lãnh đạo một số địa phương, các doanh nghiệp sản xuất vẫn nhắc tới khó khăn “kinh niên” là tiếp cận vốn, mặt bằng sản xuất nhiều hơn các kế hoạch chuyển dịch, nâng cao năng lực cạnh tranh, thưa ông?

Nhiều doanh nghiệp phản ánh chi phí mặt bằng hiện chiếm tới 25% tổng mức đầu tư của doanh nghiệp. Trong khi đất thuê để xây dựng nhà xưởng thường là trả tiền hàng năm, không đủ điều kiện để doanh nghiệp thế chấp vay vốn ngân hàng, khiến nhiều doanh nghiệp sau khi đầu tư xây dựng nhà xưởng gần như cạn nguồn lực tài chính, không còn khả năng đầu tư cho công nghệ và mở rộng sản xuất.

Nhiều doanh nghiệp chia sẻ đang khó tiếp cận mặt bằng sản xuất, đối mặt với thách thức lớn đang gia tăng về chi phí đầu vào, logistics... cũng như yêu cầu ngày càng cao hơn của khách hàng, của thị trường xuất khẩu.

Áp lực bên trong, bên ngoài khiến không ít doanh nghiệp dù muốn, nhưng chưa thể thực hiện được kế hoạch chuyển sang chiến lược “sáng tạo, sở hữu và làm chủ thương hiệu”, đầu tư mạnh vào đổi mới công nghệ, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, đáp ứng các yêu cầu khắt khe về môi trường, lao động và truy xuất nguồn gốc từ các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản...

Đây là thời điểm bàn tay của Nhà nước cần vỗ nhịp nhàng với bàn tay của thị trường. Một môi trường đầu tư - kinh doanh thực sự minh bạch, an toàn, nguồn lực phân bổ dựa trên nguyên tắc thị trường sẽ thúc đẩy các kế hoạch đầu tư - kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp, gồm cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất hay bất động sản, tài chính, ngân hàng... Từ đó, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Môi trường đầu tư - kinh doanh, mà ông nhắc tới có thể hình dung thế nào, khi biến động của thị trường thế giới đang rất phức tạp, khó đoán định?

Cũng phải khẳng định, những khó khăn do tác động từ biến động địa chính trị toàn cầu là tất yếu và phải đối mặt vì Việt Nam là nền kinh tế mở, không phải là ốc đảo. Nhưng chính lúc này, doanh nghiệp rất cần thấy rõ sự kiên định của Chính phủ trong điều hành kinh tế để đạt mục tiêu mà Chính phủ đã xác định, đó là tăng trưởng cao và bền vững.

Một là, kiên định với mục tiêu tăng tưởng cao, không nao núng với những khó khăn trong thực hiện, nhưng không vì mục tiêu tăng trưởng cao, mà hy sinh ổn định kinh tế vĩ mô - nền móng cho sự tăng trưởng cao, bền vững trong trung và dài hạn.

Hai là, nỗ lực cải cách thể chế, cách thức điều hành quản trị nền kinh tế theo hướng đẩy mạnh quản trị công để nâng cấp môi trường đầu tư của Việt Nam. Đây chính là công cụ quan trọng để thu hút nguồn lực, dòng vốn của khu vực kinh tế tư nhân vào nền kinh tế.

Ba là, phân bổ nguồn lực theo tín hiệu thị trường. Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực của Nhà nước, đầu tư vào hạ tầng, nguồn nhân lực... theo thị trường để cả Nhà nước và tư nhân đều nâng cao hiệu quả.

Bốn là, kiên định với mục tiêu xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy năng suất các nhân tố tổng hợp, năng suất lao động làm nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới dựa vào đổi mới, sáng tạo, khoa học - công nghệ. Đây chính là công thức tạo nên sự khác biệt, năng lực cạnh cho nền kinh tế. Theo tôi, đó là những điều Chính phủ cần kiên định thực hiện.

Bảo Duy thực hiện
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục