Dữ liệu là chìa khóa quản lý thuế tài sản mã hóa

(ĐTCK) Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, bà Vũ Thị Bình - Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo Quản trị doanh nghiệp Bình Vũ cho rằng, để quản lý thuế hiệu quả đối với thị trường tài sản mã hóa, dữ liệu giao dịch là hết sức quan trọng.

Thông tư 32/2026/TT-BTC đã xác lập nguyên tắc thu thuế đối với hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa, trong khi Thông tư 41/2026/TT-BTC tiếp tục quy định quy trình kê khai, khấu trừ và quyết toán thuế. Theo bà, đâu là những điểm mấu chốt quyết định việc chính sách có đi được vào thực tế, thay vì chỉ dừng ở khung pháp lý?

Để chính sách thuế đối với tài sản mã hóa thực sự đi vào cuộc sống, theo tôi, có 3 điều kiện quan trọng. Trước hết, chúng ta phải có thị trường giao dịch tài sản mã hóa hợp pháp và có khả năng giám sát, vì nếu phần lớn giao dịch vẫn diễn ra ngoài phạm vi quản lý thì việc thực thi chính sách thuế sẽ gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, phải có “hàng hóa” đủ điều kiện để giao dịch trên thị trường: Chính là các tài sản mã hóa được phát hành, chào bán bởi các tổ chức phát hành tài sản mã hóa. Lưu ý, các tài sản mã hóa phải được phát hành dựa trên cơ sở là tài sản thực và không bao gồm tài sản là chứng khoán, tiền pháp định.

Thứ ba, phải tạo được thanh khoản và dòng vốn tham gia thị trường. Tại Điều 6 - Nghị quyết 05/2025/NQ-CP quy định, tài sản mã hoá chỉ được chào bán, phát hành cho hóa đầu tư nước ngoài, tức là chưa mở ngay thị trường sơ cấp cho nhà đầu tư trong nước. Trong khi đó, tiền thuế phát sinh từ tài sản mã hóa chỉ khi xuất hiện giao dịch trên thị trường thứ cấp, vì vậy nhà đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng để “khởi động” thị trường.

Tôi cho rằng, điểm quan trọng nhất không nằm ở việc ban hành thêm bao nhiêu quy định, mà là khả năng xây dựng được một hệ sinh thái giao dịch minh bạch, có dữ liệu và có dòng tiền thực. Khi thị trường vận hành được thì chính sách thuế mới có cơ sở để thực thi hiệu quả.

Một điểm mới đáng chú ý là trách nhiệm thu thuế đang được gắn nhiều hơn với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa thông qua cơ chế kê khai, khấu trừ và cung cấp dữ liệu giao dịch. Theo bà, cơ chế này có đủ để kiểm soát nghĩa vụ thuế, hay vẫn còn khoảng trống với các giao dịch xuyên biên giới, giao dịch phi tập trung hoặc giao dịch ngoài hệ thống được cấp phép?

Điểm quan trọng nhất không nằm ở việc ban hành thêm bao nhiêu quy định, mà là khả năng xây dựng được một hệ sinh thái giao dịch minh bạch, có dữ liệu và có dòng tiền thực.

Việc giao trách nhiệm kê khai, khấu trừ và cung cấp dữ liệu giao dịch cho các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa là hướng đi phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với nguyên tắc quản lý thuế thông qua cơ chế khấu trừ tại nguồn.

Tuy nhiên, cơ chế này đang được áp dụng đối với các tài sản mã hóa được đề cập tại Nghị quyết 05/2025/NQ-CP là thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, đối với các giao dịch xuyên biên giới, giao dịch trên nền tảng phi tập trung hoặc các giao dịch thực hiện ngoài hệ thống được cấp phép, việc quản lý sẽ phức tạp hơn do cơ quan quản lý khó tiếp cận đầy đủ dữ liệu giao dịch theo thời gian thực.

Nghị quyết 05/2025/NQ-CP cũng đã dự liệu vấn đề này. Theo Khoản 2, Điều 7, sau thời hạn 6 tháng kể từ khi tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đầu tiên được cấp phép, nhà đầu tư trong nước thực hiện giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức được Bộ Tài chính cấp phép có thể bị xử lý vi phạm hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

Điều đó cho thấy định hướng quản lý của Việt Nam không chỉ dừng ở việc thu thuế, mà còn hướng tới việc tập trung giao dịch vào các nền tảng được cấp phép nhằm bảo đảm tính minh bạch của thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý trong thực tế sẽ không chỉ phụ thuộc vào cơ chế khấu trừ tại nguồn, mà còn phụ thuộc vào khả năng kết nối dữ liệu, năng lực giám sát công nghệ, cơ chế phòng chống rửa tiền và sự hợp tác quốc tế trong trao đổi thông tin.

Nói cách khác, cơ chế khấu trừ tại nguồn là nền tảng quan trọng để quản lý thuế đối với tài sản mã hóa, nhưng để kiểm soát toàn diện nghĩa vụ thuế trong một thị trường có tính xuyên biên giới cao thì vẫn cần sự kết hợp đồng bộ giữa dữ liệu, công nghệ và khuôn khổ pháp lý.

Cần tiếp tục xây dựng một hệ sinh thái giao dịch tài sản mã hóa minh bạch, thuận tiện và được số hóa tối đa

Một trong những thách thức lớn của tài sản mã hóa là xác định giá vốn, thời điểm phát sinh thu nhập và xử lý các giao dịch có tần suất cao. Theo bà, quy định hiện nay đã đủ rõ ràng để nhà đầu tư và doanh nghiệp thực hiện thống nhất hay chưa và cần hướng dẫn thêm nội dung nào?

Tôi cho rằng, các quy định hiện nay đã bước đầu hình thành được khung pháp lý cần thiết để triển khai việc quản lý thuế đối với tài sản mã hóa. Tuy nhiên, mức độ rõ ràng giữa các nhóm đối tượng nộp thuế là khác nhau.

Đối với nhà đầu tư là tổ chức nước ngoài và nhà đầu tư cá nhân (cư trú và không cư trú), thực hiện chuyển nhượng tài sản mã hóa thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ được cấp phép, quy định hiện nay tương đối rõ ràng. Tổ chức cung cấp dịch vụ có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho nhà đầu tư, đồng thời cấp chứng từ khấu trừ thuế điện tử theo quy định. Mức thuế được xác định theo tỷ lệ 0,1% trên giá trị chuyển nhượng từng lần, do đó không phát sinh yêu cầu xác định giá vốn hay tính toán lãi, lỗ cho từng giao dịch. Điều này giúp đơn giản hóa đáng kể nghĩa vụ thuế đối với các nhà đầu tư nói trên, kể cả trong trường hợp giao dịch với tần suất cao.

Đối với nhà đầu tư là tổ chức trong nước thì câu chuyện phức tạp hơn. Khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, các vấn đề như giá vốn, các chi phí liên quan đến chuyển nhượng có hóa đơn, chứng từ cần được hướng dẫn cụ thể hơn để bảo đảm cách hiểu và cách thực hiện thống nhất.

Theo tôi, trong giai đoạn hiện nay, các quy định đã đủ để thị trường vận hành và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch cơ bản. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển rất nhanh của thị trường tài sản mã hóa, hệ thống hướng dẫn cũng cần được cập nhật thường xuyên để theo kịp các mô hình giao dịch và sản phẩm mới phát sinh trong thực tế.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc đánh thuế tài sản mã hóa chỉ hiệu quả khi chi phí tuân thủ thấp hơn chi phí né tránh. Theo bà, Việt Nam cần thiết kế cơ chế thu thuế như thế nào để khuyến khích nhà đầu tư tự nguyện kê khai, thay vì dịch chuyển giao dịch sang các nền tảng ngoài phạm vi quản lý?

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, Việt Nam đang trong giai đoạn thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết 05/2025/NQ-CP của Chính phủ. Trong mô hình hiện nay, trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài và nhà đầu tư cá nhân (cư trú và không cư trú) được giao cho tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Đây là một thiết kế phù hợp vì giúp giảm đáng kể nghĩa vụ kê khai trực tiếp của nhà đầu tư.

Đối với nhà đầu tư là tổ chức trong nước, cơ quan thuế có thể đối chiếu thông tin từ các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, dữ liệu ngân hàng và hồ sơ kê khai thuế của doanh nghiệp. Vì vậy, khả năng kiểm tra, đối soát và phát hiện các trường hợp kê khai không đầy đủ là rất khả thi. Tuy nhiên, theo tôi, mục tiêu quan trọng nhất không phải là làm cho việc né tránh trở nên khó khăn hơn, mà là tuân thủ trở nên đơn giản hơn.

Nếu nhà đầu tư giao dịch trên các nền tảng được cấp phép và hệ thống tự động thực hiện việc khấu trừ, kê khai, cấp chứng từ điện tử, lưu trữ lịch sử giao dịch và hỗ trợ đối chiếu dữ liệu thì phần lớn nghĩa vụ thuế gần như đã được thực hiện một cách tự động. Khi đó, chi phí tuân thủ sẽ rất thấp và nhà đầu tư không có nhiều động lực để tìm cách dịch chuyển giao dịch ra ngoài hệ thống quản lý.

Do đó, theo tôi, hướng đi phù hợp của Việt Nam là tiếp tục xây dựng một hệ sinh thái giao dịch tài sản mã hóa minh bạch, thuận tiện và được số hóa tối đa, trong đó việc thực hiện nghĩa vụ thuế được tích hợp ngay trong quá trình giao dịch. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ và cơ chế hợp tác quốc tế để quản lý hiệu quả các giao dịch xuyên biên giới.

Khi người nộp thuế thấy rằng, giao dịch trên hệ thống được cấp phép vừa thuận tiện, vừa an toàn và nghĩa vụ thuế được thực hiện gần như tự động, việc tuân thủ sẽ trở thành lựa chọn tự nhiên, thay vì một nghĩa vụ mang tính cưỡng chế.

Nhật Minh thực hiện.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục