Động lực mới xác lập mô hình tăng trưởng mới

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã xác lập mô hình tăng trưởng mới, coi đây là một trong 8 nội dung cần tập trung triển khai trong giai đoạn 2026-2030. Theo PGS-TS. Trần Kim Chung, nguyên Phó viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cần phải có động lực mới để xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Muốn xác lập mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, cần phải kiến tạo động lực mới, thưa ông?

“Động lực mới” là những nguồn lực, cơ hội hoặc yếu tố thúc đẩy tăng trưởng thay thế hoặc bổ sung cho những động lực truyền thống (đầu tư công, xuất khẩu, khai thác tài nguyên, nhân công giá rẻ...) đang dần cạn kiệt hoặc không còn bền vững. Có thể nói, tất cả động lực truyền thống mà chúng ta đang cố gắng khai thác chưa đủ để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn giai đoạn trước.

Hơn nữa, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức: bẫy thu nhập trung bình, già hóa dân số, cạnh tranh toàn cầu, biến đổi khí hậu… Vì vậy, cần phải kiến tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, nhất là trong bối cảnh phải đạt được tốc độ tăng trưởng 2 con số trong ít nhất 5 năm tới, như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đặt ra.

PGS-TS. Trần Kim Chung, nguyên Phó viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Theo ông, động lực mới cho giai đoạn phát triển hiện nay là những gì?

Đó là không gian phát triển mới đã được hình thành, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp để không gian kinh tế thực sự trở thành động lực mới. Đó còn là các loại hình kinh tế mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu, kinh tế bạc, kinh tế đêm… mới hình thành, cần được đẩy mạnh phát triển hơn nữa để tham gia vào tạo lập, phát triển phương thức, loại hình động lực mới. Đó còn là các lực lượng sản xuất mới, trong đó phải tập trung vào thể chế, nhân lực, hạ tầng, không gian kinh tế, các cực tăng trưởng.

Trải qua 40 năm Đổi mới, kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh. Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong sự phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, tạo công ăn việc làm, bảo đảm an sinh xã hội ngày càng lớn. Tuy nhiên, “tiếng nói” của khu vực này vẫn nằm ở thế yếu so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế không thể phát triển nhanh và bền vững một khi doanh nghiệp bản địa không phải là nhân tố quyết định. Khu vực tư nhân mới là lực lượng nòng cốt thực thi các động lực mới.

Động lực không gian phát triển mới, ý ông muốn nói là việc sáp nhập các đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp?

Mới đúng một nửa. Kể từ 1/7/2025, cuộc sắp xếp lại giang sơn lớn nhất lịch sử đã diễn ra. Không gian kinh tế mới đã hình thành từ cuộc sắp xếp này. Ở khía cạnh hành chính, người dân chỉ nhìn thấy giảm được số đơn vị hành chính và không còn cấp trung gian là quận huyện, nhưng khi nhìn trên khía cạnh kinh tế, thì việc giảm đầu mối, bỏ trung gian tạo ra động lực không gian kinh tế mới.

Trước đây, chúng ta phân bản đồ kinh tế thành 6 khu vực theo hướng Bắc - Nam khá khu biệt, mỗi vùng có thế mạnh riêng nhưng khó liên thông nên không phát huy được sức mạnh, lợi thế của cả vùng. Sau khi sắp xếp lại theo hướng Đông - Tây để hướng ra biển, có 21/34 tỉnh thành giáp biển. Trước đây, không ai có thể hình dung Gia Lai, Đắk Lắk (cũ) ở khu vực Tây Nguyên cũng có thể giáp biển, tạo động lực phát triển kinh tế khu vực Tây Nguyên.

Tương tự, Hưng Yên, Hà Nam, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang... (cũ) nằm sâu trong nội địa, nhưng sau khi sáp nhập đã trở thành địa phương giáp biển, do đó, sẽ phát huy tối đa lợi thế của tỉnh vừa có lợi thế nằm sâu trong nội địa lại vừa giáp biển.

Đối với các tỉnh thành không giáp biển, sau sáp nhập không chỉ mở rộng không gian 3 chiều mà còn tận dụng tối đa lợi thế cơ sở hạ tầng của 2-3 địa phương trước khi sáp nhập để phát triển…

Thế nửa còn lại của không gian phát triển mới là gì, thưa ông?

Đó là không gian kinh tế số. Cần phải tạo lập không gian kinh tế số đồng hành cùng không gian kinh tế thực.

Theo ông, Việt Nam đã sẵn sàng cho việc khai thác không gian phát triển mới này chưa?

Kinh tế số dựa vào nền tảng khoa học- công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng đóng góp nhiều hơn cho phát triển kinh tế. Chính vì vậy, không phải chỉ là sẵn sàng, mà Việt Nam đã tích cực khai thác không gian kinh tế số. Để tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế trên 55%; tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%...

Báo cáo về các văn kiện tại Đại hội Đảng lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng đã nhấn mạnh việc tập trung phát triển công nghệ chiến lược; thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện; xây dựng chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số…

Ông cho rằng, cần phải kiến tạo các loại hình kinh tế mới trở thành động lực phát triển. Thưa ông, các loại hình kinh tế mới ở đây là gì?

Loại hình kinh tế mới đã được đặt ra trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị và đã được nhiều chuyên gia phân tích, bình luận, đó là kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế dữ liệu. Vì vậy, tôi chỉ muốn nói đến loại hình kinh tế mới với Việt Nam nhưng lại không hề mới với thế giới, đó là kinh tế đêm và kinh tế bạc.

Dân số thế giới đang càng ngày càng già hóa, trong đó, Việt Nam là nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Số lượng người cao tuổi và tỷ lệ người cao tuổi so với lực lượng lao động đang tăng lên nhanh chóng và Việt Nam sẽ sớm ra khỏi giai đoạn “dân số vàng”. Vì vậy, cần phải phát triển kinh tế bạc, khai thác phần đóng góp của người cao tuổi và dịch vụ cho người cao tuổi. Đây là không gian kinh tế còn dư địa rất lớn, vì năm 2024, giá trị do kinh tế bạc tạo ra là 2,3 tỷ USD và vào năm 2030, dự kiến đạt tối thiểu 3,2 tỷ USD.

Năm 2026, mục tiêu đặt ra là thu hút 25 triệu lượt khách quốc tế, 150 triệu lượt khách nội địa. Tiềm năng phát triển ngành du lịch của Việt Nam vô cùng lớn, cần phải tận dụng tối đa mọi lợi thế, trong đó có phát triển kinh tế đêm. Đó là các hoạt động của kinh tế - văn hóa diễn ra vào ban đêm, chủ yếu là hoạt động trải nghiệm mang tính giải trí phục vụ cho khách du lịch. Nhưng đây mới chỉ là kinh tế đêm theo nghĩa hẹp. Trong không gian số, thế giới phẳng, khi Việt Nam hết giờ làm việc ban ngày thì nhiều nơi trên thế giới bắt đầu ngày làm việc, vì thế, kinh tế đêm là khai thác thời gian 24/7, cần phải tạo điều kiện để một bộ phận lực lượng lao động không nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ xuyên biên giới làm việc, tương tác với thế giới bên ngoài vào bất cứ thời gian nào trong ngày.

Mạnh Bôn
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục