Mặt bằng lãi suất cao hơn đáng kể
Số liệu được Ngân hàng Nhà nước công bố gần đây cho thấy, thanh khoản hệ thống ngân hàng có dấu hiệu bớt căng thẳng. Tính đến ngày 3/9/2026, huy động vốn toàn hệ thống tăng 8,33% so với đầu năm, trong khi tín dụng ở mức 9,98%. Đáng chú ý, tăng trưởng huy động vốn trong tháng 8 đạt 0,99%, gần gấp 5 lần mức tăng trưởng 0,2% của tín dụng.
Diễn biến trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng cho thấy các tổ chức phát hành vẫn huy động được khối lượng vốn lớn, nhưng chi phí đã tăng rõ rệt. Theo MBS Research, trong 7 tháng đầu năm 2026, mặt bằng lãi suất bình quân toàn thị trường đã lên khoảng 9,5%/năm, tăng hơn 2 điểm phần trăm so với năm 2025 (khoảng 7,3%/năm). Tháng 8 vừa qua, dữ liệu của VIS Rating cho biết, lãi suất bình quân của trái phiếu ngân hàng vào khoảng 8,7%/năm và lãi suất bình quân trái phiếu bất động sản vào khoảng 12,2%/năm.
Như vậy, bài toán với các doanh nghiệp không chỉ là có huy động được vốn hay không, mà là đầu tư - kinh doanh trên một mặt bằng chi phí vốn đã cao hơn đáng kể so với giai đoạn 2024 - 2025.
Thống kê của Vietstock Finance trên 636 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán có vốn chủ sở hữu dương tại cuối năm 2025 và ngày 30/6/2026, loại trừ nhóm ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các tổ chức tài chính cho thấy, tổng nợ vay của nhóm này tại thời điểm cuối quý II/2026 đạt khoảng 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 174.900 tỷ đồng, tương đương hơn 10% so với cuối năm 2025.
Trong 522 doanh nghiệp có nợ vay vào cuối năm 2025, đến ngày 30/6/2026, có 294 doanh nghiệp tăng nợ vay (chiếm tỷ trọng 56%); trong đó, 151 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 29%) tăng dư nợ từ 20% trở lên. Đámg chú ý, mức tăng nợ vay trong nửa đầu năm 2026 tập trung ở một số doanh nghiệp lớn. Riêng 10 doanh nghiệp tăng nợ nhiều nhất đã đóng góp khoảng 87% mức tăng ròng. Trong nhóm này, Vinhomes (mã VHM) ghi nhận mức tăng khoảng 69.186 tỷ đồng nợ vay, tương đương gần 40% tổng mức tăng ròng hơn 174.900 tỷ đồng của các doanh nghiệp được thống kê trong nửa đầu năm.
Ở góc độ thanh khoản, tại ngày 30/6/2026, trong 510 doanh nghiệp được thống kê, có 324 doanh nghiệp (chiếm tỷ trọng 63%) ghi nhận tổng tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn thấp hơn dư nợ vay ngắn hạn.
Áp lực chi phí vốn và trả nợ
Nợ vay tăng trong bối cảnh mặt bằng lãi suất tăng cao chắc chắc sẽ tạo thêm áp lực chi phí cho doanh nghiệp. Tất nhiên, việc tăng vay nợ trong nhiều trường hợp gắn liền với kế hoạch mở rộng không gian tăng trưởng.
Chẳng hạn, tại Tập đoàn Hòa Phát, tính đến ngày 30/6/2026, tổng vay và nợ thuê tài chính của doanh nghiệp này vào khoảng 98.530 tỷ đồng; trong đó, vay ngắn hạn chiếm khoảng 71.433 tỷ đồng. Phần tăng nợ vay chủ yếu đến từ nhu cầu bổ sung vốn lưu động khi quy mô sản xuất thép mở rộng. Trong nửa đầu năm, Hòa Phát vẫn tạo ra khoảng 12.642 tỷ đồng dòng tiền kinh doanh.
Phép thử với Hòa Phát trong thời gian tới không nằm ở con số nợ gần 100.000 tỷ đồng, mà ở việc công suất mới có tạo doanh thu, lợi nhuận và dòng tiền đủ để hấp thụ phần vốn tăng thêm hay không.
Ở doanh nghiệp bán lẻ như FPT Retail, đến cuối quý II/2026, Công ty ghi nhận gần 15.875 tỷ đồng nợ vay. Các con số trên báo cáo tài chính quý II cho thấy, doanh nghiệp phải rót thêm lượng tiền lớn vào hàng hóa trong lúc tiếp tục mở rộng hoạt động. Đây là nhu cầu tài trợ vốn lưu động và thước đo cần theo dõi sau đó là tốc độ quay vòng hàng hóa cùng khả năng chuyển tăng trưởng doanh thu thành tiền.
Áp lực chi phí vốn và nợ vay cao thể hiện rõ ở CII. Báo cáo tài chính hợp nhất bán niên của doanh nghiệp cho thấy, chi phí lãi vay trong kỳ xấp xỉ 1.000 tỷ đồng. Trong kỳ, CII ghi nhận 8.427 tỷ đồng từ đi vay và hợp tác đầu tư, đồng thời trả gần 2.981 tỷ đồng nợ gốc.
Tại Novaland, tổng nợ gốc các khoản vay và trái phiếu tại thời điểm cuối quý II/2026 là 72.911 tỷ đồng, trong đó 16.716 tỷ đồng đã đến hạn nhưng chưa thanh toán. Novaland đã bán 4 tài sản với tổng giá trị 11.266 tỷ đồng trong kế hoạch thanh lý 15.617 tỷ đồng tài sản để tạo nguồn trả nợ. Từ ngày 1/7 đến thời điểm báo cáo tài chính bán niên được phê chuẩn, doanh nghiệp này đã trả thêm 2.417 tỷ đồng nợ gốc. Tuy vậy, kiểm toán viên vẫn nhấn mạnh các yếu tố liên quan đến khả năng hoạt động liên tục của Novaland.
Điểm khác biệt là nguồn vốn mới của Novaland không chủ yếu để mở rộng tài sản sinh lời, mà để xử lý nghĩa vụ cũ. Phương án chào bán thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu đã được Hội đồng quản trị Novaland làm rõ lại mục đích sử dụng vốn trong tháng 8. Tuy nhiên, đây vẫn là phương án đang triển khai, chưa phải nguồn tiền đã vào bảng cân đối.
Cùng nhóm bất động sản, Phát Đạt có dư nợ vay vào khoảng 5.246 tỷ đồng vào thời điểm cuối quý II/2026, giảm khoảng 5% so với cuối năm 2025, nhưng dòng tiền kinh doanh nửa đầu năm vẫn âm khoảng 2.815 tỷ đồng. Công ty dự kiến chào bán tối đa gần 199,6 triệu cổ phiếu trong thời gian tới với giá 10.000 đồng/cổ phiếu nhằm huy động gần 1.996 tỷ đồng. Theo kế hoạch điều chỉnh trong tháng 7, hơn 101 tỷ đồng được dùng trả nợ gốc.
Viconship đang triển khai kế hoạch chào bán khoảng 187 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, dự kiến thu khoảng 1.872 tỷ đồng. Trong đó, 1.582 tỷ đồng, tương đương khoảng 84,5%, dự kiến dùng trả nợ gốc và lãi, còn 290 tỷ đồng góp vốn vào Hải An Green Shipping để đầu tư tàu container.
Được biết, tại thời điểm cuối tháng 6/2026, tổng nợ vay của Công ty vào khoảng 6.504 tỷ đồng, tăng khoảng 21% so với cuối năm 2025.
Viconship dường như không đơn thuần tăng vốn để trả nợ, mà là một động thái tái cân bằng cơ cấu nguồn vốn: dùng thêm vốn chủ để giảm một phần áp lực nợ, đồng thời vẫn dành vốn cho tài sản tăng trưởng.
Nợ vay có lãi suất, nghĩa vụ trả gốc và rủi ro tái cấp vốn, trong khi đó, việc tăng vốn chủ sở hữu lại đối diện áp lực pha loãng. Trong chu kỳ vốn đắt hơn, lợi thế vì thế không thuộc về doanh nghiệp huy động được nhiều vốn nhất, mà thuộc về doanh nghiệp còn quyền lựa chọn nguồn vốn, huy động với chi phí hợp lý và biến đồng vốn đó thành dòng tiền với suất sinh lời cao hơn chi phí vốn phải trả.
Đó cũng là lý do thị trường chứng khoán tiếp tục phân hóa, dòng tiền vẫn luân phiên tìm kiếm cơ hội ở các doanh nghiệp có nền tảng vững chắc, bảng cân đối kế toán lành mạnh. Diễn biến kém tích cực về điểm số và thanh khoản của VN-Index trước cột mốc thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi cho thấy rõ trạng thái thận trọng của dòng tiền vẫn được duy trì.