Thuế quan tạo chuyển dịch nguồn cung
Từ ngày 24/7/2026, Mỹ chấm dứt mức thuế 10% theo Section 122 và chuyển sang áp dụng thuế Section 301 liên quan đến việc các đối tác chưa thiết lập hoặc thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.
Việt Nam chịu mức thuế bổ sung 12,5% cộng trực tiếp vào thuế tối huệ quốc (MFN), cao hơn 2,5 điểm phần trăm so với Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Ấn Độ và một số đối thủ, đồng thời bất lợi hơn đáng kể so với nhóm được áp dụng cơ chế “net of MFN”.
Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) cho biết, Việt Nam bước vào nửa cuối năm 2026 với một nền tảng tương đối thuận lợi. Trong 6 tháng đầu năm, xuất khẩu hàng sợi dệt tăng gần 36% so với cùng kỳ trong khi hàng may mặc tăng 1% so với cùng kỳ và duy trì được vị thế số 1 về thị phần tại Mỹ.
Nhưng khả năng duy trì lợi thế trong năm 2027 phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có chuyển được năng lực sản xuất thành giá trị chiến lược đối với khách hàng hay không trong bối cảnh chính sách thuế mới được cho là sẽ thúc đẩy quá trình sàng lọc lại nguồn cung.
"Kinh nghiệm từ các đợt Section 301 trước cho thấy thuế có thể làm thay đổi mạnh cơ cấu nhập khẩu nhưng không bảo đảm sản xuất quay về Mỹ với quy mô tương ứng", theo Vinatex.
Báo cáo Tác động kinh tế của thuế quan theo Section 232 và 301 của Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (USITC) ước tính thuế Section 301 áp lên hàng Trung Quốc giai đoạn 2018-2021 được truyền gần như đầy đủ vào giá nhà nhập khẩu Mỹ phải trả. Bình quân toàn bộ hàng hóa, cứ thuế tăng 1% thì giá trị và lượng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm khoảng 2% sau khi doanh nghiệp có thời gian điều chỉnh nguồn cung thay thế.
Riêng ngành may mặc, đến năm 2021, thuế được ước tính làm nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 39,1%, so với kịch bản không có thuế; nhập khẩu từ các nguồn khác tăng 25,2%, trong khi sản lượng tại Mỹ chỉ tăng 6,3%. Giá hàng nhập từ Trung Quốc tăng 14,5%, giá hàng sản xuất tại Mỹ tăng 3,1% và giá bình quân trên thị trường tăng 4,3%.
Kết quả khảo sát do USFIA thực hiện công bố tháng 7/2026 cũng cho kết quả tương tự: chỉ 10,5% doanh nghiệp tăng mua hàng “Made in USA”, trong khi 57,9% tiếp tục đa dạng hóa quốc gia cung ứng và 63,2% đàm phán lại hợp đồng với nhà cung cấp.
Đo vị thế nguồn cung dệt may Việt Nam
Năm 2027, sức ép cạnh tranh sẽ lớn hơn khi các thương hiệu vừa tái cân bằng nguồn cung giữa các quốc gia, vừa có xu hướng tập trung đơn hàng vào những nhà cung cấp có năng lực tốt hơn. Khả năng duy trì và mở rộng vị thế của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục nâng cao năng suất, tốc độ, tính linh hoạt, năng lực phát triển sản phẩm và khả năng truy xuất, tuân thủ.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam dẫn đầu nguồn cung nhập khẩu hàng may mặc của Mỹ với khoảng 22,2% thị phần về giá trị, khoảng 58% doanh nghiệp Mỹ trả lời trong một cuộc khảo sát từ tháng 4 cho tới tháng 6 nói vẫn mua trên 10% tổng lượng hoặc giá trị hàng may mặc từ Việt Nam.
Đáng chú ý, Việt Nam đang sở hữu vị thế cạnh tranh khá cân bằng. Trên thang điểm 1-5, Việt Nam đạt 3,9 điểm về chi phí, 3,6 điểm về tính linh hoạt và khả năng thích ứng, 3,5 điểm về mức độ tích hợp theo chiều dọc và 3,1 điểm về khả năng đáp ứng đơn hàng tối thiểu (MOQ).
Trong nhóm các nước châu Á, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc về tính linh hoạt, đồng thời có lợi thế tương đối đồng đều ở các tiêu chí cạnh tranh. Bangladesh nổi trội hơn về chi phí nhưng hạn chế về khả năng đáp ứng MOQ, trong khi Bangladesh và Campuchia đều có mức độ tích hợp theo chiều dọc thấp hơn Việt Nam.
Nền tảng cạnh tranh này giúp Việt Nam giảm tác động từ chênh lệch thuế 2,5 điểm phần trăm, bởi với các đơn hàng yêu cầu kỹ thuật cao, giao nhanh hoặc quy mô linh hoạt, chi phí chuyển nhà cung cấp có thể lớn hơn lợi ích từ thuế. Khi đó, khách hàng không chỉ dựa vào giá FOB.
Tuy nhiên, triển vọng mở rộng đơn hàng lại thận trọng hơn. Trong 2 năm tới, chỉ 33% doanh nghiệp dự kiến tăng mua từ Việt Nam, thấp hơn Indonesia (53,3%), Bangladesh (46,7%) và Guatemala (40%); khoảng 7% dự kiến giảm mua. Việt Nam đạt 2,8 điểm về tốc độ ra thị trường và 2,0 điểm về rủi ro phát sinh thêm hàng rào nhập khẩu của Mỹ, thuộc nhóm có mức rủi ro cao.
Như vậy, Việt Nam đang có vị thế cạnh tranh tốt nhưng dư địa mở rộng nguồn cung không còn vượt trội, đòi hỏi doanh nghiệp tiếp tục nâng cao năng lực và giảm rủi ro chuỗi cung ứng.
Chính sách thuế sau ngày 24/7 tạo ra bất lợi tương đối cho Việt Nam so với một số đối thủ có mức thuế thấp hơn, nhưng chưa làm thay đổi căn bản vị thế của dệt may Việt Nam trong chuỗi cung ứng Mỹ.
7 tháng đầu năm nay, xuất khẩu dệt may đạt 22,83 tỷ USD (chưa tính xơ sợi, vải) trong đó xuất sang Mỹ duy trì vị thế dẫn đầu với kim ngạch 10,5 tỷ USD, theo Cục Hải quan.
Trong năm 2027, sức ép cạnh tranh sẽ lớn hơn khi các thương hiệu vừa tái cân bằng nguồn cung giữa các quốc gia, vừa có xu hướng tập trung đơn hàng vào những nhà cung cấp có năng lực tốt hơn.
Vì vậy, khả năng duy trì và mở rộng vị thế của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào việc tiếp tục nâng cao năng suất, tốc độ, tính linh hoạt, năng lực phát triển sản phẩm và khả năng truy xuất, tuân thủ.