Điện gió tại Việt Nam đang bước vào chu kỳ mới, mở ra nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Trong bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương cạnh tranh mạnh mẽ để thu hút dòng vốn năng lượng tái tạo, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để bứt phá với điện gió, nhưng con đường phía trước vẫn còn nhiều "nút thắt" cần được tháo gỡ.
Điện gió tại Việt Nam đang bước vào chu kỳ mới, mở ra nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn

Lợi thế tự nhiên và “cửa sổ cơ hội” hiếm có

Trong phiên thảo luận tại họp báo cung cấp thông tin về Hội nghị Năng lượng gió khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026) được tổ chức bởi Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu (GWEC) và Báo Tài chính - Đầu tư, các diễn giả đều đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng điện gió ngoài khơi hàng đầu châu Á nhờ đường bờ biển dài, tốc độ gió cao và ổn định, cùng thềm lục địa nông - điều kiện thuận lợi để phát triển các dự án điện gió móng cố định.

Thông tin được ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc quốc gia Việt Nam của GWEC cho biết, tiềm năng kỹ thuật của điện gió ngoài khơi Việt Nam vào khoảng 600 GW, tức là cao vượt trội so với nhiều nước trong khu vực nếu loại trừ các thị trường khổng lồ như Trung Quốc và Ấn Độ.

Quy hoạch điện VIII đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 26-38 GW điện gió trên bờ, gần bờ và khoảng 6 GW điện gió ngoài khơi, đồng thời định hướng nâng công suất điện gió ngoài khơi lên 70-91,5 GW vào năm 2050. Với các mục tiêu này, theo ông Thắng, nếu nhìn rộng ra các nước trong khu vực (ngoại trừ Trung Quốc và Ấn Độ), Việt Nam có thể được xem là nước dẫn đầu về tham vọng cả với điện gió trên bờ và ngoài khơi, với điều kiện các chỉ tiêu trong quy hoạch được hiện thực hóa đúng tiến độ. Nhu cầu điện của Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nên điện gió được nhìn nhận là một “trụ cột” trong cơ cấu năng lượng.

Từ góc nhìn nhà đầu tư, ông Alessandro Antonioli - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, CIP, nhấn mạnh Việt Nam sở hữu “lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về gió” nhờ tài nguyên thiên nhiên ưu đãi và đường bờ biển dài, đi cùng một nền kinh tế đang phát triển cần nguồn điện ổn định, giá phải chăng và bền vững.

Ông cho rằng làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng sản xuất từ châu Âu, Mỹ sang Đông Nam Á đang tạo áp lực lớn về nguồn năng lượng xanh. “Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội nếu có chính sách hỗ trợ, khung thương mại rõ ràng và nâng cao chuỗi cung ứng địa phương”.

Ngay trong khu vực, các nhà sản xuất thiết bị cũng nhìn thấy “cửa sổ cơ hội” này. Ông Ngô Tiến Đạt - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam, Suzlon Energy, đánh giá Việt Nam là “một quốc gia rất tiềm năng trong khu vực APAC” với tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhu cầu điện lớn và lực lượng lao động trẻ, năng động, có năng lực. Vì vậy, Suzlon đã chọn đặt hub (điểm trung tâm) đầu tiên tại Việt Nam để phục vụ Đông Nam Á và các nước lân cận.

Thực tế, các nhà thầu tổng hợp như IPC E&C đã thi công hơn 2.000 MW điện gió, điện mặt trời trong nước và khu vực, cho thấy hệ sinh thái nhà thầu - từ xây dựng hạ tầng, lắp đặt thiết bị đến vận hành - đã hình thành ở mức độ nhất định, tạo nền tảng cho bước nhảy mới nếu chuỗi dự án được triển khai ổn định.

Các diễn giả trao đổi tại Họp báo Hội nghị Năng lượng gió khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026). Ảnh: Chí Cường.

Các diễn giả trao đổi tại Họp báo Hội nghị Năng lượng gió khu vực châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026). Ảnh: Chí Cường.

Thách thức chính sách, hạ tầng và niềm tin nhà đầu tư

Dù tiềm năng và nhu cầu đều “rất tốt”, chặng đường phát triển điện gió Việt Nam những năm qua đã trải qua một giai đoạn “thăng - trầm”. Từ góc độ GWEC, ông Bùi Vĩnh Thắng nhìn lại giai đoạn 2018-2021 là thời kỳ bùng nổ nhờ cơ chế giá FIT, giúp thu hút lượng lớn nhà đầu tư vào điện gió trên bờ và gần bờ. Nhờ đó, đến nay Việt Nam đã đưa vào vận hành khoảng hơn 5,5 GW điện gió trên bờ và gần bờ, đóng góp đáng kể cho hệ thống điện quốc gia.

Tuy nhiên, cơ chế FIT này không kéo dài và từ năm 2021 đến đầu 2024, Việt Nam gần như “trống cơ chế mới”, khiến nhiều nhà đầu tư phải “đứng chờ” trong bối cảnh quốc tế đầy biến động, với hàng loạt sự kiện xảy ra như chiến sự Nga-Ukraine, lãi suất toàn cầu tăng và đại dịch Covid-19.

Theo ông Thắng, đây là giai đoạn “market correction” - điều chỉnh thị trường, khi nhiều nhà đầu tư buộc phải tái cơ cấu danh mục, xác định lại thị trường ưu tiên, dẫn đến việc một số nhà đầu tư rút khỏi Việt Nam. Từ cuối 2023 đến 2024, loạt văn bản như Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, các nghị định 56, 57, 58, 11, 95 và Nghị quyết 253 của Quốc hội bắt đầu được ban hành, từng bước tạo khung pháp lý mới cho điện gió, điện tái tạo. Theo đó, GWEC quyết định tổ chức hội nghị điện gió APAC lần thứ tư tại Việt Nam, xem thời điểm hiện nay là “khởi đầu của một chu kỳ mới”, nơi nhà đầu tư “vào sớm là có cơ hội”.

Tuy vậy, niềm tin không thể chỉ được xây dựng bằng lời kêu gọi. Ông Alessandro Antonioli thẳng thắn chỉ ra sự đình trệ trong hoạch định chính sách ba năm qua, khi rất nhiều kỳ vọng về cơ chế tháo gỡ cho các dự án vẫn chưa thành hiện thực, và việc chậm thanh toán cho một số nhà máy năng lượng tái tạo đã làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư.

Theo ông Alessandro Antonioli, Việt Nam cần những “hành động quyết đoán từ Chính phủ”, trong đó có một đầu mối điều phối tập trung về năng lượng tái tạo, đẩy nhanh những công cụ như cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPN) và quan trọng nhất là phải hoàn thiện hợp đồng mua bán điện (PPA) theo chuẩn có thể huy động được vốn quốc tế.

“Nhà đầu tư không thể rót thêm vốn nếu họ không biết điều kiện bán điện của mình là gì”, ông nhấn mạnh.

Một nút thắt khác nằm ở hạ tầng truyền tải và giải tỏa công suất. Theo ông Nguyễn Tuấn - Trưởng ban thương mại Thương mại, PTSC, kinh nghiệm từ dự án điện gió Savan 1 xuất khẩu điện từ Lào về Việt Nam cho thấy, việc triển khai 600 MW điện gió tại Lào và hơn 40 km đường dây 220 kV trên địa hình đồi núi được thực hiện “rất nhanh, trong vòng 16 tháng”. Tuy nhiên, 16 tháng triển khai đường dây tại Việt Nam (mũi thi công 16 km đường dây tại phía Việt Nam, tại tỉnh Quảng Trị) đã diễn ra cực kỳ khó khăn và phức tạp trong quy trình về mặt đền bù giải phóng mặt bằng.

"Dự án này được phê duyệt với quy mô 500 MW nhưng chỉ triển khai được 300 MW do cơ sở hạ tầng giải tỏa công suất không đủ. Đây là một trong những trở ngại về cơ sở hạ tầng lưới điện tại Việt Nam. Chúng ta có nhu cầu rất là lớn nhưng mà cơ sở hạ tầng chưa có, đó là điểm nghẽn hiện nay", ông Tuấn nói thêm.

Qui Ánh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục