Độ chênh giữa các kỳ vọng
Về phía các tổ chức quốc tế, độ chênh giữa kỳ vọng trong nước và cách nhìn bên ngoài có sự khác biệt. Trong các báo cáo 2025-2026, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra kịch bản cơ sở cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam ở mức 6,3% năm 2026 và nhấn mạnh, đây đã là mức cao nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, vượt nhiều nước ASEAN khác.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), trong tham vấn Điều IV 2025, thậm chí còn thận trọng hơn, dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng thực năm 2026 khoảng 5,6%, sau khi đã đạt khoảng 6,5% năm 2025. IMF lý giải, sự giảm tốc này dựa trên phân tích tác động từ chính sách thuế của Mỹ đối với một số mặt hàng xuất khẩu, từ điều kiện tài chính toàn cầu chặt chẽ hơn và do nhu cầu thế giới chưa phục hồi hoàn toàn.
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), trong bản cập nhật triển vọng châu Á, ước kinh tế Việt Nam tăng khoảng 6% năm 2026, sau khi đạt mức khoảng 6,7% năm 2025.
Như vậy, các định chế lớn đều coi mức 6-6,5% mới là “trung tâm phân phối”.
Trên thực tế, bức tranh kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 đã xuất hiện nhiều điểm sáng. Sau cú sốc đại dịch Covid-19, Việt Nam đã nhanh chóng kéo lại đà tăng trưởng kinh tế, từ mức rất thấp năm 2021 lên khoảng 8% năm 2022, rồi chững lại trong năm 2023 do xuất khẩu suy yếu, thị trường bất động sản và trái phiếu doanh nghiệp trầm lắng.
Các báo cáo cập nhật 9 tháng năm 2025 cho thấy, GDP nửa đầu năm tăng khoảng 7,5%, cả năm ước đạt 7-8%. Lạm phát giai đoạn 2021-2025 trong vùng 1,8-3,9%/năm, luôn dưới trần mục tiêu 4-4,5%, chứng tỏ chính sách điều hành tiền tệ - tài khóa của Việt Nam là tương đối thận trọng, đã tránh được cả “sốc nóng”, lẫn suy giảm quá sâu.
Các cân đối lớn khác cũng ở trạng thái tương đối lành mạnh. Nợ công trong ngưỡng an toàn, thâm hụt ngân sách được kiểm soát. Thương mại duy trì thặng dư lớn với tổng kim ngạch năm 2025 vượt 930 tỷ USD, xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng 2 con số, thặng dư thương mại khoảng 20 tỷ USD. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn tích cực. Đó là những yếu tố giải thích vì sao, Chính phủ tự tin hơn khi nói tới mục tiêu 2 con số.
Mặc dù vậy, nếu đi sâu vào cấu trúc kinh tế, thì nền tảng cho một cú nhảy từ 7-8% lên 10% mỗi năm cần phải làm rõ thêm.
Trước hết, động lực tăng trưởng kinh tế hiện vẫn dựa khá nhiều vào vốn và lao động, chưa là sự bứt phá về năng suất lao động. Cả Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) lẫn WB đều nhấn mạnh, để duy trì mức tăng trưởng kinh tế 7 -8% trong dài hạn, Việt Nam phải cải cách quyết liệt hơn ở ba trụ cột. Đó là nâng chất khu vực doanh nghiệp tư nhân, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước và cải thiện thể chế - môi trường kinh doanh. Nếu không, đóng góp của Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) sẽ khó tăng đủ để nâng trần tăng trưởng tiềm năng.
Thứ hai, hệ thống tài chính và bất động sản vẫn tiềm ẩn rủi ro.
Từ năm 2022 đến 2024, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản đã trải qua giai đoạn căng thẳng, buộc nhà chức trách phải can thiệp, giãn - hoãn nợ, tái cấu trúc một số tổ chức tín dụng yếu. Bài học giai đoạn 2007-2011 cho thấy, khi cố đẩy tăng trưởng lên 2 con số bằng cách nới lỏng tín dụng, đầu tư công dàn trải và bong bóng tài sản, thì hệ quả là sẽ tác động tới lạm phát, nợ xấu và tất yếu là cả tăng trưởng kinh tế. Nếu mục tiêu 10% được theo đuổi bằng các biện pháp tương tự, thì rủi ro lặp lại chu kỳ này là không nhỏ.
Thứ ba, thương mại - một trong những động cơ chính - cũng chứa đựng những điểm yếu.
Đó là khu vực doanh nghiệp FDI tạo thặng dư thương mại lớn, nhưng khu vực doanh nghiệp trong nước lại nhập siêu đáng kể; doanh nghiệp nội vẫn yếu về công nghệ, thương hiệu, khả năng bám vào khâu có giá trị gia tăng cao. Sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ - với tư cách khách hàng xuất khẩu lớn nhất và Trung Quốc - với tư cách nguồn cung nguyên liệu, linh kiện, lại đặt Việt Nam vào thế nhạy cảm trước bất kỳ động thái bảo hộ, áp thuế, hay gián đoạn chuỗi cung ứng. Việc Mỹ từng xem xét áp thuế 20% với một số hàng Việt Nam, rồi thực sự triển khai một phần là lời nhắc nhở rằng, không thể coi kịch bản “thuận buồm xuôi gió” cho xuất khẩu là mặc định.
Thứ tư, bối cảnh toàn cầu năm 2026 được đánh giá là nhiều rủi ro hơn cơ hội. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) coi đối đầu địa kinh tế, phân mảnh chuỗi cung ứng và bất ổn tài chính là những rủi ro lớn nhất; các ngân hàng trung ương vẫn phải căng mình giữa áp lực kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.
Với bức tranh đó, việc nền kinh tế mở như Việt Nam đạt mức tăng trưởng 2 con số đòi hỏi một tổ hợp: cầu thế giới mạnh, không có cú sốc giá năng lượng, không có rào cản mới từ các đối tác lớn và trong nước vừa cải cách sâu, vừa tránh được mọi trục trặc tài chính.
| |
Để tăng trưởng 2 con số, nền kinh tế cần những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn và lan tỏa mạnh. Ảnh: Đức Thanh |
Để đạt mức tăng trưởng 2 con số
Trong bối cảnh hiện tại, cũng không nên cực đoan theo hướng “phủ nhận sạch trơn” khả năng nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 10% như một số đánh giá.
Về mặt toán học, khả năng nền kinh tế đạt mức tăng 2 con số trong 1-2 năm trên nền 6-7% của các năm vẫn có thể xảy ra khi có những động lực đặc biệt. Cụ thể là làn sóng FDI lớn, bùng nổ xuất khẩu do mở thêm thị trường mới, xuất hiện giai đoạn “siêu chu kỳ” đầu tư hạ tầng, hay nhảy vọt về năng suất nhờ chuyển đổi số, chuyển dịch năng lượng.
Một số phân tích trong nước lập luận rằng, giai đoạn 2025-2030 có thể là “cửa sổ vàng cuối cùng” khi dân số Việt Nam còn tương đối trẻ, chuỗi cung ứng đang tái cấu trúc và thế giới tìm kiếm các điểm đến sản xuất ngoài Trung Quốc. Nếu Việt Nam cải cách đúng và nhanh, thì lợi thế này có thể đẩy tăng trưởng vượt đường dự báo cơ bản, nhất là trong vài năm đầu.
Tuy nhiên, điểm mấu chốt là sự khác biệt giữa “kịch bản tối ưu” và “kịch bản cơ sở”. Các tổ chức như WB, IMF, ADB có xu hướng đưa ra dự báo theo kịch bản cơ sở, tức là trung bình có trọng số của các khả năng, dưới giả định chính sách không có cú xoay trục quá lớn.
Chính phủ Việt Nam, khi đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% đang gửi một tín hiệu chính trị: yêu cầu toàn hệ thống nỗ lực tối đa, tận dụng mọi dư địa.
Chính phủ Việt Nam, khi đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%, đang gửi một tín hiệu chính trị: yêu cầu toàn hệ thống nỗ lực tối đa, tận dụng mọi dư địa. Điều này có thể có tác dụng huy động nguồn lực, đẩy nhanh quyết định đầu tư, cải cách.
Về mặt quản trị, điều này có thể có tác dụng huy động nguồn lực, đẩy nhanh quyết định đầu tư, cải cách. Nhưng nếu không đi kèm các rào chắn vĩ mô rõ ràng, thì việc này có thể tạo áp lực khiến bộ máy nghiêng sang hướng “ưu tiên tốc độ bằng mọi giá”, đánh đổi ổn định tài chính và chất lượng tăng trưởng.
Đánh giá một cách cân bằng, có thể nói, mục tiêu tăng trưởng tối thiểu 10% trong năm 2026 là tham vọng, nếu xét theo cách nhìn của các thể chế tài chính quốc tế.
Nền tảng kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 cho thấy, Việt Nam có khả năng duy trì mức tăng 6-7%, thậm chí 7-8% trong điều kiện thuận lợi, với lạm phát thấp và các cân đối lớn ổn định. Để nhảy thêm 2-3 điểm phần trăm, Việt Nam cần một chương trình cải cách thể chế - năng suất quy mô lớn, đi kèm kỷ luật tài chính chặt chẽ và môi trường quốc tế không quá bất lợi. Nếu các điều kiện đó không hội tụ, thì việc cố đẩy lên 10% có thể tác động tới vĩ mô, trong khi lợi ích ròng về dài hạn lại không tương xứng.
Để đạt mức tăng trưởng GDP 10% ngay trong năm 2026 và các năm tiếp theo, cách tiếp cận phù hợp nhất là tăng chất lượng tăng trưởng, nâng năng suất lao động, tăng giá trị gia tăng nội địa, giảm rủi ro tài chính, cải thiện an sinh và môi trường. Nếu các giải pháp cũng là những kiến nghị trên được triển khai một cách nhất quán, thì mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% không còn là khẩu hiệu phi thực tế.
Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục cách tiếp cận “điều chỉnh dần dần”, thì rất có thể tăng trưởng 2 con số sẽ chỉ là mục tiêu kỳ vọng. Quyết tâm chính trị là điều kiện cần, nhưng nếu được cụ thể hóa bằng các thay đổi cấu trúc sâu sắc như vậy, thì sẽ có cơ hội biến thành kết quả kinh tế cụ thể trong giai đoạn 2026-2035.
18 kiến nghị để đạt mức tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 và các năm tiếp theo
1. Chấp nhận đặt năng suất làm trung tâm cho mọi quyết sách.
Mức tăng trưởng 2 con số không thể đến từ việc chỉ bơm thêm vốn và lao động, trong khi dân số đã bắt đầu bước vào giai đoạn già hóa. Việt Nam cần coi tăng năng suất lao động và TFP là chỉ tiêu bắt buộc, được theo dõi thường xuyên như lạm phát hay bội chi. Mọi chính sách miễn giảm thuế, ưu đãi tín dụng, phân bổ đầu tư công đều phải trả lời câu hỏi: có nâng được năng suất không, hay chỉ làm phình thêm quy mô. Điều này đòi hỏi thay đổi tư duy từ “tăng bao nhiêu phần trăm GDP” sang “mỗi đồng vốn, mỗi giờ lao động tạo thêm bao nhiêu giá trị”.
2. Cơ cấu lại vai trò của Nhà nước trong kinh tế, chuyển từ “làm thay” sang tập trung vào thiết kế luật chơi và giảm rủi ro.
Nhà nước cần rút dần khỏi lĩnh vực kinh doanh mà tư nhân làm tốt hơn, nhất là ở các ngành cạnh tranh; nguồn lực từ cổ phần hóa, thoái vốn phải được dồn cho hạ tầng then chốt, an sinh và các nhiệm vụ mà tư nhân không thể đảm nhận. Cùng lúc, phải nâng năng lực của bộ máy hoạch định chính sách, giảm tình trạng văn bản chồng chéo, “giấy phép con” và khoảng trống pháp lý. Một nhà nước thiết kế luật chơi tốt, giải quyết tranh chấp nhanh và thực thi nhất quán sẽ giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn - điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng cao bền vững.
3. Đặt lại quan hệ giữa ngân sách, nợ công và tăng trưởng theo hướng chủ động hơn.
Dư địa nợ công còn nhưng không vô hạn, song trong giai đoạn cửa sổ cơ hội thu hút FDI, xây dựng hạ tầng và chuyển dịch năng lượng, chúng ta nên có một chiến lược tài khóa “tấn công có kiểm soát”. Thay vì rải mỏng, cần tập trung vay và chi cho một số chương trình đầu tư công có khả năng kéo theo đầu tư tư nhân lớn: các hành lang logistics, cảng nước sâu, lưới điện truyền tải hiện đại, hạ tầng số và trung tâm dữ liệu, các khu công nghệ cao thực chất. Nợ công chỉ thực sự là rủi ro nếu vốn vay không tạo ra năng suất cao hơn tốc độ lãi suất; điều quan trọng là kỷ luật chọn dự án, chứ không phải chỉ giữ một con số nợ công đẹp.
4. Làm lại từ gốc thị trường vốn và bất động sản.
Hai lĩnh vực này trong hơn một thập kỷ qua vừa là động lực, vừa là nguồn rủi ro lớn. Để hỗ trợ tăng trưởng 2 con số mà không đẩy hệ thống vào vòng xoáy bong bóng, cần tách bạch rõ các kênh vốn cho sản xuất - kinh doanh và đầu cơ tài sản. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp phải được thiết kế lại theo chuẩn minh bạch, xếp hạng tín nhiệm bắt buộc với khối phát hành lớn, chế tài mạnh với gian lận. Bất động sản cần bước sang giai đoạn chủ yếu phục vụ nhu cầu ở và công nghiệp, logistics, thay vì dựa vào sóng đầu tư tài chính. Chính sách đất đai, quy hoạch phải ổn định, giảm cơ hội cho “thổi giá” và lợi ích nhóm. Khi hai thị trường này vận hành lành mạnh, tín dụng và vốn dài hạn mới chảy vào sản xuất thay vì bị hút vào đầu cơ.
5. Chủ động tái cơ cấu toàn bộ chiến lược thương mại, giảm lệ thuộc đơn hướng vào một vài thị trường và phân khúc thấp.
Tăng trưởng 2 con số mà chỉ dựa vào xuất khẩu gia công sẽ rất mong manh, rủi ro rất cao. Chúng ta cần đặt mục tiêu rõ về tỷ trọng sản phẩm trung - cao cấp trong cơ cấu xuất khẩu, về mức độ đa dạng hóa thị trường (không để thị trường lớn nhất vượt quá một ngưỡng nhất định) và về tỷ lệ doanh nghiệp nội tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Điều này không đến từ các khẩu hiệu, mà từ việc hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, xây dựng thương hiệu, tham gia hệ sinh thái dịch vụ xung quanh FDI (logistics, thiết kế, phần mềm, dịch vụ kỹ thuật). Cũng phải sẵn sàng chấp nhận chi phí ngắn hạn khi siết nghiêm gian lận xuất xứ, để đổi lấy uy tín dài hạn với các đối tác.
6. Biến chiến lược chuyển dịch năng lượng thành động cơ tăng trưởng, không chỉ là gánh nặng chi phí.
Thế giới đang bơm lượng vốn khổng lồ vào năng lượng tái tạo, lưới điện thông minh, phương tiện điện, vật liệu mới. Chúng ta cần một chiến lược rõ ràng để trở thành mắt xích trong những chuỗi giá trị này, chứ không chỉ là người mua thiết bị. Điều đó đồng nghĩa với việc ưu tiên hình thành các cụm công nghiệp năng lượng sạch, pin, thiết bị điện gió - mặt trời, thu hút nhà sản xuất lớn nhưng kèm điều kiện phát triển nhà cung cấp trong nước. Lưới điện phải được nâng cấp như một hạ tầng chiến lược, để giải phóng công suất năng lượng tái tạo và tạo nền cho các ngành tiêu thụ điện năng cao như trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, sản xuất chip.
7. Đầu tư nghiêm túc cho công nghiệp nền tảng và công nghệ số, thay vì chỉ trông chờ vào lắp ráp.
Tăng trưởng 2 con số cần những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn và lan tỏa mạnh. Việt Nam nên chọn một số mảng phù hợp với lợi thế hiện tại - chẳng hạn cơ khí chính xác và linh kiện cho công nghiệp ô tô - xe điện, thiết bị điện tử công nghiệp, phần mềm nhúng, dịch vụ đám mây, dịch vụ thiết kế trong chuỗi chip - và xây xung quanh đó hệ sinh thái đào tạo, R&D, ưu đãi và hạ tầng. Nhà nước không thể “chọn thắng thua”, nhưng có thể chọn những lĩnh vực chiến lược để giảm rủi ro, đồng thời buộc mọi ưu đãi phải gắn với cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tỷ lệ nội địa hóa.
8. Giải phóng sức sản xuất của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, coi đây là động lực chính cho tăng trưởng dài hạn.
Nhiều năm qua, khu vực này vẫn gặp rào cản vô hình: tiếp cận đất đai, vốn, thông tin, cơ hội đấu thầu không bình đẳng với doanh nghiệp nhà nước hoặc FDI. Để thay đổi, cần áp dụng triệt để nguyên tắc “bình đẳng trước pháp luật và tiếp cận nguồn lực” trên thực tế, giảm hẳn các ưu ái ngầm cho doanh nghiệp nhà nước, thu hẹp các khu vực “sân sau”. Đồng thời, Nhà nước nên hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ qua các dịch vụ công không mang tính xin - cho: trung tâm hỗ trợ đổi mới công nghệ, tư vấn tiêu chuẩn, thông tin thị trường, nền tảng số dùng chung. Khi doanh nghiệp tư nhân mạnh lên, tăng trưởng 2 con số không còn chỉ là chuyện “thêm vốn nhà nước”.
9. Triển khai nghiêm công tác phòng chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm trong các lĩnh vực cốt lõi.
Đây là điều kiện cần cho mọi cải cách khác. Tham nhũng không chỉ làm mất tiền, mà còn bóp méo phân bổ nguồn lực, khiến vốn chảy vào nơi lợi ích quan hệ lớn thay vì nơi năng suất cao. Cần chuyển trọng tâm từ xử lý từng vụ việc sang tạo cơ chế giảm không gian tham nhũng: minh bạch hóa tối đa quy hoạch, đấu thầu, mua sắm công; số hóa quá trình cấp phép, thanh tra; giảm sự tùy tiện của cán bộ. Khi doanh nghiệp không phải chi “chi phí bôi trơn” lớn và không bị cạnh tranh không lành mạnh từ “sân sau”, họ sẽ có thêm dư địa để đầu tư dài hạn, chấp nhận rủi ro sáng tạo.
10. Tái cấu trúc toàn diện hệ thống giáo dục - đào tạo nghề theo hướng bám sát chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tăng trưởng 2 con số không thể có với lực lượng lao động kỹ năng thấp. Việt Nam cần chuyển nhanh từ mô hình đào tạo nặng lý thuyết sang kỹ năng nghề, kỹ năng số, ngoại ngữ, tư duy giải quyết vấn đề. Điều này đòi hỏi kết nối chặt giữa nhà trường và doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp tham gia thiết kế chương trình, đặt hàng đào tạo, nhận thực tập. Cần có những chương trình quy mô quốc gia để đào tạo lại lực lượng lao động trong các ngành đang teo lại (ví dụ một số mảng dệt may, lắp ráp đơn giản), chuẩn bị cho các ngành mới như logistics hiện đại, sản xuất thông minh, dịch vụ số. Lao động có kỹ năng chính là yếu tố quyết định để thu hút FDI chất lượng cao và nâng năng suất.
11. Đối xử với chuyển đổi số như một dự án hạ tầng quốc gia, không chỉ là phong trào công nghệ.
Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân phải coi dữ liệu, nền tảng số, điện toán đám mây, AI là phần tất yếu trong mọi kế hoạch đầu tư mới. Nhà nước cần hoàn tất nhanh các cơ sở dữ liệu lớn, thiết kế cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan và với khu vực tư nhân một cách an toàn. Mục tiêu không chỉ là để cung cấp dịch vụ công trực tuyến, mà còn để cải thiện chất lượng điều hành: dự báo cầu năng lượng, giám sát giao thông, quản lý thuế, chống gian lận thương mại. Khi bộ máy công vận hành dựa trên dữ liệu thay vì giấy tờ và quan hệ, chi phí giao dịch giảm, môi trường kinh doanh được cải thiện, qua đó tăng trưởng dài hạn được nâng đỡ.
12. Xây dựng chiến lược an ninh kinh tế rõ ràng, coi đó là hàng rào bảo vệ cho tăng trưởng 2 con số.
Một nền kinh tế tăng rất nhanh nhưng thiếu sức đề kháng trước cú sốc bên ngoài sẽ dễ phải trả giá bằng sụt giảm đột ngột. Việt Nam cần chủ động phân tích và quản lý rủi ro trong các lĩnh vực như năng lượng, lương thực, tài chính, chuỗi cung ứng, dữ liệu. Điều này không chỉ thuộc về lực lượng an ninh kinh tế, mà đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ bộ máy kinh tế: từ việc thiết lập dự trữ chiến lược cho những mặt hàng quan trọng, đến xây dựng tiêu chuẩn an ninh cho hạ tầng số, đến cơ chế huy động khẩn cấp khu vực tư nhân khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn. An ninh kinh tế tốt cho phép chấp nhận những quyết định phát triển táo bạo hơn mà không sợ sụp đổ hệ thống.
13. Thiết kế lại quan hệ trung ương - địa phương trong phát triển kinh tế.
Nhiều khi tăng trưởng bị kìm hãm không phải vì thiếu chủ trương, mà vì cơ chế phân cấp nửa vời: địa phương thiếu quyền thật, nhưng lại không chịu trách nhiệm thật; trung ương muốn quản nhưng không đủ chi tiết và thông tin. Để thúc đẩy động lực tại chỗ, cần phân quyền mạnh hơn cho địa phương về quy hoạch, đầu tư công, thu hút FDI, nhưng đi kèm hệ thống chỉ tiêu và giám sát chặt chẽ dựa trên kết quả thực. Những tỉnh, vùng có thể trở thành cực tăng trưởng - ví dụ vùng Đông Nam bộ, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ - nên được trao cơ chế chính sách linh hoạt hơn, thử nghiệm các mô hình mới về đô thị, công nghiệp, dịch vụ, rồi nhân rộng khi thành công.
14. Chủ động định hình vị thế trong cuộc cạnh tranh nước lớn thay vì chỉ “né tránh”.
Tăng trưởng 2 con số trong 10 năm tới gần như chắc chắn sẽ gắn với việc Việt Nam trở thành một trong những điểm trung tâm của chuỗi cung ứng khu vực. Điều đó đồng nghĩa với việc chịu áp lực từ nhiều phía: Mỹ muốn bảo đảm Việt Nam không là “cửa sau” cho hàng Trung Quốc; Trung Quốc lo Việt Nam là điểm tựa mới cho chiến lược kiềm chế của Mỹ; các nước khác thì tranh thủ lôi kéo. Do đó, Việt Nam cần xây dựng năng lực phân tích và đàm phán địa kinh tế, chủ động đề xuất các gói hợp tác cụ thể với từng bên - ví dụ trung tâm đổi mới sáng tạo với Mỹ, hành lang logistics với Nhật, hợp tác năng lượng với EU, sản xuất linh kiện với Hàn Quốc - trên cơ sở rõ ràng về lợi ích và giới hạn. Khi “bàn tay” của mình trên bàn chơi đủ mạnh, tăng trưởng cao sẽ đến cùng với vị thế cao.
15. Quản trị quá trình đô thị hóa và phát triển vùng theo hướng tạo ra các “siêu cụm năng suất”.
Đô thị hóa là động lực lớn cho tăng trưởng, nhưng nếu thiếu quy hoạch, sẽ sinh ra kẹt xe, ô nhiễm, giá đất cao, làm mất lợi thế cạnh tranh. Việt Nam nên xác định một số cụm đô thị - công nghiệp - dịch vụ có khả năng vươn lên tầm khu vực và dồn nguồn lực làm đến nơi đến chốn: hạ tầng giao thông công cộng, nhà ở giá hợp lý cho công nhân và chuyên gia, không gian xanh, hạ tầng số. Khi những cụm này vận hành trơn tru, năng suất tổng thể của nền kinh tế sẽ tăng mạnh, kéo theo thay đổi về chất trong cơ cấu việc làm.
16. Xây dựng một hệ thống an sinh và bảo hiểm xã hội đủ vững để người dân dám chấp nhận rủi ro.
Tinh thần kinh doanh, chấp nhận đổi nghề, học kỹ năng mới phụ thuộc nhiều vào việc người lao động có cảm thấy được bảo vệ trước cú sốc hay không. Vì vậy, Việt Nam cần cải cách hệ thống bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp tái đào tạo, hỗ trợ di cư lao động, để mỗi người có thể yên tâm hơn khi chuyển sang các ngành nghề mới trong bối cảnh tự động hóa và dịch chuyển chuỗi cung ứng. Đây không chỉ là chính sách xã hội, mà là hạ tầng mềm cho tăng trưởng cao.
17. Nâng chất công tác thống kê và minh bạch dữ liệu kinh tế.
Để điều hành tăng trưởng 2 con số, nhà hoạch định chính sách cần dữ liệu sát thực tế, kịp thời về sản xuất, tiêu dùng, đầu tư, nợ, thị trường lao động. Hệ thống thống kê hiện nay vẫn còn độ trễ và không đồng nhất giữa các cấp, khiến việc đánh giá hiệu quả chính sách hoặc phát hiện rủi ro bị chậm. Minh bạch dữ liệu cũng là cách xây dựng lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước, làm giảm chi phí vốn.
18. Xây dựng một “hợp đồng phát triển mới” giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Tăng trưởng 2 con số trong một thập kỷ là một cuộc huy động xã hội quy mô lớn: Nhà nước phải chấp nhận thay đổi cách điều hành, doanh nghiệp phải đầu tư dài hạn và tuân thủ luật chơi, người dân phải chấp nhận học hỏi, di chuyển, thay đổi nghề nghiệp. Nếu không có sự đồng thuận xã hội tương đối rõ, rằng đổi lại cho những nỗ lực và điều chỉnh này, mọi người sẽ được hưởng một phần công bằng từ quả ngọt tăng trưởng - thì chiến lược sẽ khó mà đi đến cùng. Hợp đồng này thể hiện qua chính sách thu - chi minh bạch, qua việc Nhà nước thực sự lắng nghe doanh nghiệp và người dân, qua việc thành quả phát triển được cụ thể hóa trong dịch vụ công, hạ tầng, cơ hội việc làm, chứ không chỉ trên các con số GDP.
(*)Phó chủ tịch Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Viện Công nghệ và Kinh tế số (Đại học Bách khoa Hà Nội), nguyên Phó trưởng ban Khu công nghệ cao Hòa Lạc