Chiều 29/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Dự luật này được xây dựng để thay thế hoàn toàn Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện hành, cho thấy cách tiếp cận đã dịch chuyển từ hỗ trợ sang kiến thiết để phát triển.
Đảm bảo hỗ trợ thực chất
Tham gia góp ý kiến cho dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn (đoàn Lai Châu) cho rằng, dự luật đã đưa ra nhiều nội dung khuyến khích khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích các tổ chức cho vay vốn để tạo điều kiện cho nhóm này tiếp cận vốn.
Tuy nhiên, theo đại biểu, chưa có chỉ tiêu nào mang tính định lượng. Trong khi, đây là một trong những nội dung rất quan trọng để doanh nghiệp ngày càng lớn lên.
"Nhìn vào đây, doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể nhận ra mình sẽ được hỗ trợ gì?", đại biểu nêu và đề nghị cần rà soát lại, để doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận vốn.
Về chính sách thuế, theo đại biểu, dự thảo quy định miễn thuế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong 3 năm, kể từ khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp lần đầu.
Song đại biểu cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa khi bắt đầu khởi nghiệp thì rất khó để có ngay được lợi nhuận.
"Để đảm bảo khoản này hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp, tôi đề nghị hỗ trợ 3 năm kể từ năm đầu tiên doanh nghiệp có lợi nhuận", đại biểu nêu ý kiến.
Làm rõ tỉ lệ doanh nghiệp thực sự phát sinh lợi ích để hỗ trợ
Tham gia góp ý kiến về chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) nêu, tại báo cáo giải trình số 879, cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nguyên quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu kể từ khi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ giai đoạn khởi sự, khuyến khích doanh nghiệp sớm nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm khả năng cân đối ngân sách.
| |
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (đoàn Lâm Đồng) |
Theo tính toán, nếu chuyển thời điểm miễn thuế sang giai đoạn doanh nghiệp phát sinh thu nhập chịu thuế, ngân sách dự kiến giảm thu thêm khoảng 60.000 - 70.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2027 - 2030.
Về vấn đề này, đại biểu Tú Anh cho rằng cần phân biệt thời gian doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế và thời gian doanh nghiệp thực sự phát sinh lợi ích từ chính sách này.
Đại biểu phân tích, việc miễn thuế chỉ mang lại lợi ích tài chính trực tiếp khi doanh nghiệp có số thuế đáng lẽ phải nộp.
"Đối với doanh nghiệp chưa phát sinh nghĩa vụ thuế trong những năm đầu, chính sách miễn thuế không trực tiếp cải thiện dòng tiền, bởi doanh nghiệp vốn chưa có khoản thuế phải nộp để được miễn", bà nói.
Trong khi đó, những doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ, xây dựng dây chuyền sản xuất hoặc phát triển sản phẩm mới thường cần thời gian dài trước khi có thể thương mại hóa và tạo ra thu nhập chịu thuế.
Theo đại biểu, những doanh nghiệp này có thể kết thúc thời hạn miễn thuế trước khi phát sinh nghĩa vụ thuế, trong khi các doanh nghiệp sớm có số thuế phải nộp lại được hưởng lợi ngay từ chính sách.
Như vậy, cùng được áp dụng chính sách miễn thuế trong 3 năm đầu thành lập nhưng mức độ thụ hưởng thực tế có thể rất khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Đặc biệt, thời gian chưa phát sinh nghĩa vụ thuế không nhất thiết phản ánh doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả mà còn có thể xuất phát từ đặc thù ngành nghề và chu kỳ đầu tư.
Vì vậy, đại biểu Tú Anh đề nghị Ban soạn thảo đánh giá hiệu quả chính sách không chỉ căn cứ vào số lượng doanh nghiệp thuộc diện được miễn thuế và tổng số thuế được miễn, mà cần làm rõ tỉ lệ doanh nghiệp thực sự phát sinh lợi ích, mức ưu đãi thực nhận và sự khác biệt giữa các nhóm doanh nghiệp theo ngành nghề, đặc điểm đầu tư và thời gian phát sinh nghĩa vụ thuế.
Trên cơ sở đó, rà soát mức độ đáp ứng của các chính sách hỗ trợ hiện hành. Đồng thời, nghiên cứu các công cụ hỗ trợ có mục tiêu đối với những doanh nghiệp có chu kỳ nghiên cứu, đầu tư và thương mại hóa sản phẩm dài, nhất là doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, bảo đảm phù hợp với nguồn lực ngân sách và tránh trùng lặp chính sách.