Tại phiên thảo luận hội trường sáng 31/10 về các vấn đề kinh tế xã hội, ngân sách và đầu tư công, đại biểu Quốc hội kiến nghị một số lĩnh vực tiềm năng có thể trở thành động lực mới cho tăng trưởng kinh tế.
Kinh tế bạc: Từ an sinh sang đầu tư tạo giá trị
Từ thực tế già hóa dân số đang diễn ra nhanh, đại biểu Nguyễn Thanh Bình (Hà Tĩnh) đề nghị quan tâm phát triển kinh tế bạc như một không gian phát triển mới, thay vì chỉ nhìn nhận vấn đề người cao tuổi dưới góc độ an sinh xã hội.
Theo đại biểu, Việt Nam có tốc độ già hóa dân số thuộc nhóm nhanh nhất thế giới với gần 17 triệu người cao tuổi. Già hóa dân số không chỉ đặt ra áp lực đối với hệ thống y tế, chăm sóc xã hội mà còn làm xuất hiện những nhu cầu mới về sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh.
Đây cũng là thị trường có thể tạo thêm cơ hội cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư, cung ứng dịch vụ và phát triển các ngành nghề liên quan.
"Bài học quốc tế cho thấy tại các nước phát triển, nhóm người 60 tuổi trở lên đóng góp hơn 50% tổng mức chi tiêu, tiêu dùng, mở ra thị trường kinh tế bạc khổng lồ", đại biểu nói và nhấn mạnh, chúng ta cần chuyển từ tư duy dân số già thành dân số vàng, từ an sinh, bảo trợ thành đầu tư tạo giá trị mới.
Để khai mở không gian này, đại biểu đề xuất xây dựng chiến lược quốc gia về kinh tế bạc, qua đó xác định định hướng phát triển, huy động nguồn lực xã hội, nghiên cứu các chính sách khuyến khích về thuế, đất đai, tín dụng và đào tạo nhân lực nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các tổ hợp chăm sóc sức khỏe, chăm sóc người cao tuổi.
Một hướng đi được đại biểu gợi mở là phát triển các mô hình trung tâm hạnh phúc người cao tuổi, làng hạnh phúc người cao tuổi, hình thành hệ sinh thái dịch vụ chăm sóc phù hợp với nhu cầu và điều kiện của từng nhóm người.
Đáng chú ý, đại biểu đề cập việc tận dụng các trụ sở công dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính để tổ chức các điểm chăm sóc ban ngày, sinh hoạt cộng đồng dành cho người cao tuổi theo mô hình “sáng đi, tối về”. Cách làm này vừa có thể khai thác hiệu quả cơ sở vật chất sẵn có, vừa tạo điều kiện để người cao tuổi được chăm sóc, giao lưu mà vẫn duy trì cuộc sống tại gia đình.
Kinh tế cửa khẩu: Cần quỹ đất sạch và nhà đầu tư chiến lược
Ở một không gian phát triển khác, đại biểu Đoàn Thị Lê An (Cao Bằng) đề nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế cửa khẩu tại các tỉnh miền núi, biên giới, tập trung vào hai vấn đề là tạo lập quỹ đất sạch và lựa chọn nhà đầu tư.
Đại biểu phản ánh, các cửa khẩu quốc tế Tả Lùng, Trà Lĩnh và việc đầu tư tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh thuộc tỉnh Cao Bằng đang có cơ hội tăng cường kết nối giao thương với Trung Quốc và khu vực ASEAN. Tuy nhiên địa hình chia cắt, quỹ đất bằng hạn chế, chi phí hạ tầng cao cùng những vướng mắc trong chuẩn bị đất đai và thủ tục đầu tư đang ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa lợi thế thành động lực phát triển.
Theo đại biểu, các khu kinh tế cửa khẩu miền núi rất cần doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm và khả năng tổ chức chuỗi dịch vụ. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cao và thời gian thực hiện thủ tục kéo dài đang làm giảm sức hấp dẫn của các khu vực này đối với nhà đầu tư.
| |
Đại biểu Đoàn Thị Lê An (Cao Bằng) |
Từ đó, đại biểu kiến nghị nghiên cứu cơ chế lựa chọn nhà đầu tư chiến lược đối với một số dự án hạ tầng logistics, kho bãi, thương mại có tác động lan tỏa lớn. Đây là những hạng mục có vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống dịch vụ hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu, lưu chuyển hàng hóa và khai thác lợi thế của các khu kinh tế cửa khẩu.
Cơ chế lựa chọn cần có tiêu chí cụ thể về năng lực tài chính, kinh nghiệm, tiến độ giải ngân, khả năng kết nối nguồn hàng, tạo việc làm và đóng góp cho địa phương.
Đối với việc tạo lập quỹ đất sạch, đại biểu đoàn Cao Bằng kiến nghị Chính phủ rà soát quy định hiện hành, nghiên cứu trình Quốc hội cơ chế thí điểm tạo lập quỹ đất sạch tại một số khu chức năng, ưu tiên trong khu kinh tế cửa khẩu trên cơ sở quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 đã được phê duyệt.
Quỹ đất này cần đáp ứng 3 điều kiện: Giới hạn rõ phạm vi áp dụng, ưu tiên hạ tầng, logictics, kho bãi và công trình có vai trò quan trọng; Có danh mục dự án, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nguồn vốn thực hiện: Công khai tiến độ khai thác quỹ đất, giám sát việc sử dụng sau thu hồi và xác định trách nhiệm khi chậm triển khai gây lãng phí.
Đặc biệt, đại biểu lưu ý, quy hoạch phân khu không thay thế điều kiện pháp lý về thu hồi đất. Việc tạo quỹ đất phải gắn với ổn định đời sống, sinh kế của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới.
Chuyển hóa giá trị di sản thành động lực tăng trưởng mới
Không gian đầu tư thứ ba được đại biểu Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) gợi mở là phát triển kinh tế di sản, trên cơ sở khai thác giá trị của các đô thị hình thành và phát triển dựa trên nền tảng di sản văn hóa, lịch sử, kiến trúc và cảnh quan.
| |
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (TP. Huế) |
Từ thực tiễn thành phố Huế, đại biểu cho rằng di sản không chỉ là tài sản quý giá mà còn là nguồn lực nội sinh, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, phát triển đô thị di sản đặt ra bài toán phải đồng thời hiện đại hóa đô thị, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao đời sống người dân và bảo tồn tính nguyên gốc của di sản, bản sắc văn hóa, cảnh quan, không gian sống cộng đồng.
Theo đại biểu, nếu phát triển thiếu kiểm soát, di sản có thể bị thương mại hóa, cảnh quan biến dạng, môi trường quá tải và người dân mất dần sinh kế truyền thống. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng bảo tồn mà thiếu cơ chế khai thác hợp lý và nguồn lực đầu tư, giá trị di sản cũng khó được phát huy đầy đủ.
Vì vậy, mô hình phát triển đô thị di sản cần xác định bảo tồn là nền tảng, di sản là nguồn lực, văn hóa là động lực, người dân là chủ thể và chất lượng sống là mục tiêu.
Để thực hiện định hướng này, từ thực tiễn các địa phương, đặc biệt từ thành phố Huế, đại biểu đề xuất ba nhóm giải pháp.
Trước hết là đổi mới tư duy quy hoạch và quản trị đô thị di sản, tích hợp quy hoạch bảo tồn với quy hoạch đô thị, giao thông, hạ tầng du lịch và môi trường. Cần xác định rõ khu vực bảo vệ, vùng đệm, hành lang cảnh quan, giới hạn xây dựng và sức chịu tải của từng khu vực. Những dự án có nguy cơ ảnh hưởng đến di sản cần được đánh giá tác động trực tiếp và cộng dồn, có sự tham gia của chuyên gia và cộng đồng.
Thứ hai là chuyển hóa giá trị di sản thành động lực tăng trưởng mới thông qua phát triển kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và du lịch chất lượng cao. Đại biểu gợi ý kết nối di sản với nghệ thuật, lễ hội, ẩm thực, làng nghề và các sản phẩm văn hóa đặc sắc; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, phát huy di sản.
Đáng chú ý, cách tiếp cận phát triển du lịch cần chuyển từ mục tiêu tăng số lượng khách sang nâng cao chất lượng trải nghiệm, thời gian lưu trú, giá trị gia tăng và hiệu quả lan tỏa đến kinh tế địa phương. Đây cũng là cơ sở để doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng văn hóa cao, thay vì chỉ khai thác lượng khách đến tham quan.
Nhóm giải pháp thứ ba là đổi mới cách huy động và sử dụng nguồn lực, bảo đảm người dân được tham gia và thụ hưởng từ quá trình phát triển. Đại biểu đề cập ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, giao thông xanh, xử lý môi trường và các công trình thích ứng với biến đổi khí hậu...
Cuối cùng, đại biểu thành phố Huế kiến nghị bổ sung vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2027 nội dung phát triển đô thị, di sản gắn bảo tồn và phát triển.