Một trong những dự án mà Công ty Hoàng Dân trúng thầu
Thâu tóm các gói thầu ngàn tỷ bằng “cửa sau”
Ngày 30/3, Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội sẽ đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án xảy ra tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - NN&PTNT (cũ), Công ty TNHH MTV Đầu tư và Xây dựng Hoàng Dân (Công ty Hoàng Dân) cùng một số đơn vị, địa phương liên quan.
Trong số 23 bị cáo bị đưa ra xét xử có Nguyễn Văn Dân, Giám đốc Công ty Hoàng Dân, với cáo buộc 3 tội danh, gồm: Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; Đưa hối lộ.
Cùng với đó, 4 bị cáo bị đưa ra xét xử về tội “Nhận hối lộ”, gồm: Trần Tố Nghị, cựu quyền Cục trưởng Cục Quản lý xây dựng công trình; Nguyễn Hải Thanh, cựu Phó cục trưởng Cục Quản lý xây dựng công trình (đang bỏ trốn, bị xét xử vắng mặt); Trần Văn Lăng, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án 2 và Lê Văn Hiến, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án 8.
Còn lại 14 bị cáo bị đưa ra xét xử về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” và 3 bị cáo về tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo hồ sơ vụ án, trong quá trình tham gia đấu thầu tại một số dự án, Nguyễn Văn Dân đã lợi dụng mối quan hệ với lãnh đạo Bộ NN&PTNT để nhờ giới thiệu, tác động đến chủ đầu tư, thỏa thuận chi tiền % cho nhiều cá nhân nhằm được tạo điều kiện trúng thầu, thi công.
Quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã thu giữ tại nhà Nguyễn Văn Dân 175 miếng vàng (hàm lượng 99,96%, tổng khối lượng hơn 6,5 kg) và kê biên nhiều bất động sản có giá trị của các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án và thu hồi tài sản cho Nhà nước.
Hệ quả là doanh nghiệp này đã trúng 5 gói thầu tại Dự án hồ Krông Pách Thượng (tỉnh Đắk Lắk); Dự án hồ Bản Mồng (tỉnh Nghệ An); Dự án hồ Bản Lải (tỉnh Lạng Sơn) và Dự án hồ Cánh Tạng (tỉnh Hòa Bình cũ), gây thiệt hại gần 252 tỷ đồng của Nhà nước.
Không những thế, trong quá trình thi công và hoạt động kinh doanh, Nguyễn Văn Dân còn chỉ đạo thành lập hệ sinh thái 7 công ty con, lập và sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán, gây thiệt hại gần 100 tỷ đồng tiền thuế.
Hồ sơ vụ án cho biết, hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Dân bắt đầu từ việc thiết lập mạng lưới quan hệ sâu rộng với nhiều người có chức vụ, quyền hạn tại Bộ NN&PTNT và các đơn vị trực thuộc.
Với mục tiêu thâu tóm các gói thầu lớn tại những dự án hồ chứa nước như Krông Pách Thượng, Bản Mồng, Bản Lải và Cánh Tạng, Dân đã chi ra những khoản tiền hối lộ lên đến hàng chục tỷ đồng để đổi lấy sự “ưu ái” và tác động từ cấp cao.
Mắt xích đầu tiên và quan trọng nhất trong chuỗi đưa hối lộ này chính là Trần Tố Nghị, cựu quyền Cục trưởng Cục Quản lý xây dựng công trình. Theo đó, Nguyễn Văn Dân đã chủ động liên hệ và nhờ Nghị tác động đến lãnh đạo các Ban Quản lý dự án để Công ty Hoàng Dân được tham gia dự thầu. Đổi lại, Nghị đã nhận của Dân tổng số tiền lên tới 13 tỷ đồng.
Từ đó, Nghị còn là người đóng vai trò trung gian để Dân tiếp cận với Hoàng Văn Thắng, khi đó là Thứ trưởng Bộ NN&PTNT. Tại một cuộc gặp vào cuối năm 2017, Hoàng Văn Thắng đã đồng ý tác động để Công ty Hoàng Dân tham gia Dự án hồ Bản Mồng. Sau khi trúng thầu, Dân đã đưa hối lộ cho Thắng tổng cộng 200.000 USD (tương đương 4,54 tỷ đồng).
Tại các ban quản lý dự án trực thuộc Bộ NN&PTNT, Nguyễn Văn Dân cũng mua chuộc các lãnh đạo chủ chốt bằng những cam kết trích phần trăm giá trị hợp đồng. Tại Ban 2 (chủ đầu tư Dự án hồ Bản Lải), Dân đã thỏa thuận và đưa hối lộ cho Giám đốc Trần Văn Lăng tổng số tiền 13,425 tỷ đồng (bao gồm 11,1 tỷ đồng và 100.000 USD).
Còn tại Ban 4 (chủ đầu tư Dự án hồ Bản Mồng), bị cáo Nguyễn Hải Thanh (cựu Phó cục trưởng Cục Quản lý xây dựng công trình, kiêm Giám đốc Ban 4) đã nhận của Dân 6,25 tỷ đồng. Tại Ban 8 (chủ đầu tư Dự án hồ Krông Pách Thượng), Giám đốc Lê Văn Hiến cũng nhận 3 tỷ đồng để tạo điều kiện cho Công ty Hoàng Dân trúng các gói thầu số 13 và 17.
Tổng số tiền mà Nguyễn Văn Dân đã chi ra để đưa hối lộ được xác định là 40,215 tỷ đồng. Thủ đoạn của các bên rất tinh vi: các khoản tiền thường được đưa sau khi trúng thầu hoặc trong quá trình triển khai dự án, dưới danh nghĩa quà cáp vào các dịp lễ, Tết hoặc “cảm ơn” vì sự hỗ trợ.
Thậm chí, tại Dự án hồ Bản Mồng, Dân còn thỏa thuận chi tiền “cơ chế” cho lãnh đạo Bộ và chủ đầu tư lên tới 5% giá trị hợp đồng, trong đó 0,5% dành cho lãnh đạo Bộ và Cục Quản lý xây dựng công trình, còn lại dành cho lãnh đạo Ban 4.
Những hành vi này đã làm biến tướng hoàn toàn hoạt động đấu thầu công khai, minh bạch, biến các dự án quốc gia thành miếng bánh chia chác giữa doanh nghiệp và những cán bộ biến chất.
Thông đồng với chủ đầu tư, lập khống hồ sơ thầu
Sau khi được lãnh đạo, cán bộ tại Bộ NN&PTNT “dọn đường” tới các gói thầu bằng những khoản tiền hối lộ, Nguyễn Văn Dân và đồng phạm đã thực hiện cả một quy trình thông thầu bài bản nhằm hợp thức hóa việc trúng thầu cho Công ty Hoàng Dân, trong khi doanh nghiệp này không đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện các công trình thủy lợi phức tạp.
Để hợp thức hóa, Nguyễn Văn Dân đã chỉ đạo Vũ Đình Thịnh, Phó giám đốc và một số cấp dưới lập các hợp đồng kinh tế “khống” để kê khai gian dối kinh nghiệm thi công. Các hợp đồng giả mạo này thể hiện việc Công ty Hoàng Dân đã từng thi công các dự án lớn như: Thủy điện Suối Sập I (tỉnh Sơn La), Thủy điện Khao Mang (tỉnh Yên Bái cũ), trong khi thực tế đơn vị này không hề thực hiện.
Tiếp đó, một số cán bộ phụ trách hồ sơ tại các đơn vị chủ đầu tư đã cung cấp các tệp tin (file USB) chứa dữ liệu dự toán chi tiết đã được duyệt, nhưng chưa công bố cho phía Công ty Hoàng Dân.
Với các thông tin “tay trong” này, Vũ Đình Thịnh đã lập hồ sơ dự thầu với giá bỏ thầu sát với giá dự toán, với tỷ lệ giảm cực thấp nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Điển hình như tại gói thầu số 13, Dự án hồ Krông Pách Thượng, giá bỏ thầu chỉ giảm 1,25%; tại Dự án hồ Bản Mồng giảm 0,19%; hay Dự án hồ Bản Lải giảm 0,8% so với dự toán.
Không những thế, Công ty Hoàng Dân còn sử dụng các doanh nghiệp “quân xanh” và lập các liên danh đấu thầu hình thức để che giấu sự thiếu hụt năng lực. Cụ thể, tại gói thầu số 36, Dự án hồ Bản Mồng, Dân đã kéo Tổng công ty Thủy lợi 4 và các đơn vị khác vào liên danh, nhưng thực chất là để Công ty Hoàng Dân đứng đầu và thâu tóm.
Sau khi trúng thầu, Dân chỉ thi công một phần rất nhỏ, còn lại thực hiện hành vi chuyển nhượng thầu trái phép. Tại Dự án hồ Bản Mồng, mặc dù liên danh trúng thầu, nhưng Dân đã chuyển nhượng phần lớn khối lượng công việc cho các đơn vị khác để hưởng lợi bất chính.
Hệ sinh thái doanh nghiệp “ma”
Để che giấu dòng tiền hối lộ và hợp thức hóa các khoản lợi nhuận bất chính, Nguyễn Văn Dân đã chỉ đạo thiết lập một hệ thống kế toán “ma” vô cùng phức tạp, với 7 công ty trong hệ sinh thái của mình, bao gồm các công ty: Ninh Sơn, Xuân Ninh, Toàn Minh, Tiến Pháp, Minh Hùng, HD Việt Nam và Khánh An.
Mục đích thực sự của các công ty này không phải là kinh doanh, mà là phục vụ việc mua bán hóa đơn, ký kết các hợp đồng khống nhằm nâng khống giá trị đầu vào cho Công ty Hoàng Dân.
Dân đã chỉ đạo cấp dưới lập và sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán song song. Trong đó, một hệ thống sổ sách nội bộ ghi chép số liệu thực tế, phản ánh đầy đủ các khoản chi không chính thức (tiền hối lộ, chi “cơ chế”); trong khi hệ thống còn lại được quản lý trên phần mềm FAST, với các số liệu đã được chỉnh sửa, nâng khống để khai báo thuế và báo cáo với các cơ quan quản lý nhà nước.
Cơ quan tố tụng xác định, từ năm 2018 đến năm 2024, nhóm này đã mua tổng cộng 2.492 hóa đơn giá trị gia tăng khống từ 55 doanh nghiệp, với tổng giá trị tiền hàng hơn 512,8 tỷ đồng.
Điển hình như với Công ty Sao Vàng HG, Nguyễn Văn Dân đã thỏa thuận ký kết các hợp đồng thi công hạng mục khoan nổ mìn tại nhiều dự án, với giá trị được nâng khống lên gấp hàng chục lần so với thực tế để được xuất hóa đơn khống. Sau khi tiền “khống” được thanh toán, doanh nghiệp này lại hoàn trả phần lớn số chênh lệch cho Dân sau khi trừ đi phí xuất hóa đơn.
Riêng hành vi nâng khống giá trị hàng hóa tại Công ty Sao Vàng HG đã gây thiệt hại cho Nhà nước gần 8,9 tỷ đồng tiền thuế giá trị gia tăng.
Thủ đoạn tương tự cũng được Công ty Hoàng Dân thực hiện với nhiều doanh nghiệp khác, dẫn tới tổng thiệt hại bị cáo này và đồng phạm gây ra cho ngân sách nhà nước số tiền 99,2 tỷ đồng.