Cơ hội đầu tư ngành bất động sản là VRE, CII và DXG
CTCK MB (MBS)
Thị trường bất động sản trong quý I/2026 cho thấy tín hiệu hạ nhiệt rõ nét khi thanh khoản suy giảm, hàng tồn kho gia tăng và sức hấp thụ thị trường chững lại dưới tác động của mặt bằng lãi suất cao, thị trường phía Bắc và phía Nam sẽ phân hóa rõ rệt trong bối cảnh phía Bắc bước vào chu kì suy giảm và phía Nam sự hồi phục khó khăn hơn khi các yếu tố vĩ mô chưa thực sự khả quan.
Thị trường khu vực phía Bắc, đặc biệt tại Hà Nội, thị trường đang xuất hiện những dấu hiệu bước vào giai đoạn điều chỉnh khi tỷ lệ hấp thụ suy giảm và sức mua chững lại.
Thị trường bất động sản phía Nam phục hồi sẽ chậm lại trong năm 2026 khi lãi suất duy trì ở mức cao, làm gia tăng chi phí vốn và hạn chế nhu cầu đầu tư.
Chúng tôi lựa chọn VRE, CII và DXG đối với cơ hội đầu tư ngành bất động sản trong giai đoạn 2026 – 2027 nhờ: (1) Các doanh nghiệp hiện tại đang triển khai các dự án hạ tầng theo phương thức PPP, được thanh toán bằng đất nhằm triển khai dự án được hưởng lợi trong bối cảnh hạ tầng cải thiện, (2) Tập trung vào phân khúc đáp ứng nhu cầu ở thực, qua đó duy trì tỷ lệ hấp thụ ở mức cao. Kết quả kinh doanh dự kiến có thể tăng trưởng đột biến nhờ bàn giao dự án, (3) Hưởng lợi từ xu hướng mở rộng các đại đô thị và phát triển hạ tầng, tạo dư địa tăng trưởng dài hạn. Với các trung tâm thương mại như Global Gate, Green Paradise và dự án Prive.
>> Tải báo cáo
Các cổ phiếu tiềm năng có kết quả kinh doanh quý II/2026 nổi bật
CTCK Agriseco (AGR)
Tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm tăng 12,5% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua tiếp tục cải thiện. Cùng với đó, MWG ghi nhận doanh thu 32,6 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 30%) trong hai tháng đầu quý II nhờ tăng trưởng mạnh của Bách hóa Xanh và EraBlue. Việc 252 cửa hàng Bách hóa Xanh đạt lợi nhuận hoạt động dương và hiệu quả các cửa hàng mới tiếp tục cải thiện được kỳ vọng sẽ là động lực hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận trong quý II.
MWG đang giao dịch tại P/E khoảng 14x và P/E dự phóng 2026 khoảng 10–11x, thấp hơn trung bình lịch sử. Giá trị vốn hóa của MWG đang là khoảng 116.000 tỷ đồng khá thấp so với mức định giá IPO ĐMX (khoảng 102.500 tỷ đồng) điều này có thể kích hoạt lại định giá cổ phiếu MWG.
Năm 2026, MWG đặt mục tiêu đạt 9.200 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế (tăng 30% so với 2025). Chúng tôi cho rằng mục tiêu này khả thi nhờ doanh nghiệp tiếp tục hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển tiêu dùng sang kênh bán lẻ hiện đại và nhu cầu đổi mới, nâng cấp sản phẩm công nghệ.
Với POW, nhu cầu điện duy trì tích cực trong quý II nhờ thời tiết nắng nóng và hoạt động sản xuất phục hồi (IIP quý II tăng 11,2%). Cùng với việc Nhơn Trạch 3 đi vào vận hành, POW đã ghi nhận sản lượng điện 4,87 tỷ kWh (tăng 41%) và doanh thu 11.126 tỷ đồng (tăng 70%) trong hai tháng đầu quý, tạo nền tảng tích cực cho kết quả kinh doanh quý II. Ngoài ra, lợi nhuận còn có thể được hỗ trợ bởi khoản lãi chênh lệch tỷ giá khoảng 1.600 tỷ đồng tại Vũng Áng 1 nếu được ghi nhận trong kỳ.
POW đang giao dịch ở mức P/B khoảng 1,2x, thấp hơn trung bình ngành (1,56x), trong khi triển vọng tăng trưởng được cải thiện nhờ các dự án điện khí LNG.
Sau Nhơn Trạch 3 & 4 (1.624 MW) vận hành từ 2026, POW tiếp tục triển khai các dự án LNG Quỳnh Lập, Vũng Áng III và Quảng Ninh, nâng tổng công suất LNG lên hơn 6.100 MW, tương đương quy mô hiện hữu, tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn.
Đối với cổ phiếu BSR, biên lọc dầu khu vực Đông Nam Á trong quý II duy trì ở mức cao, bình quân khoảng 23 USD/thùng, gấp 5 lần cùng kỳ, tạo điều kiện cải thiện đáng kể hiệu quả kinh doanh của BSR. Đồng thời, nền lợi nhuận cùng kỳ ở mức thấp do trích lập giảm giá hàng tồn kho cũng góp phần hỗ trợ tăng trưởng. Theo đó, doanh nghiệp công bố sơ bộ lợi nhuận sau thuế quý II/2026 đạt 4.371 tỷ đồng, gấp hơn 4 lần so với cùng kỳ.
Thị giá đã giảm khoảng 40% so với vùng đỉnh thiết lập vào tháng 3/2026. Định giá của BSR đã trở nên hấp dẫn hơn sau nhịp điều chỉnh mạnh của giá cổ phiếu.
Dự án nâng cấp – mở rộng NMLD Dung Quất dự kiến hoàn thành cuối năm 2028 sẽ nâng công suất lên 171.000 thùng/ngày (tăng 15%), đồng thời gia tăng tỷ trọng sản phẩm đạt chuẩn Euro V, tạo nền tảng mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong dài hạn.
Đối với HPG, nhu cầu thép cải thiện nhờ giải ngân đầu tư công 6 tháng đầu năm tăng khoảng 15% svck, đẩy mạnh triển khai NOXH và tác động tích cực từ thuế chống bán phá giá HRC Trung Quốc. Trong hai tháng đầu quý II, sản lượng tiêu thụ HRC của HPG đạt khoảng 1,2 triệu tấn (tăng 55%). Tuy nhiên, biên lợi nhuận gộp dự kiến thu hẹp do giá than cốc (tăng 28%) và giá quặng sắt (tăng 6%) tăng nhanh hơn mức tăng của giá bán thép (tăng 11%).
HPG đang giao dịch tại P/B khoảng 1,45x, thấp hơn mức trung bình 10 năm (1,8x), trong khi triển vọng tăng trưởng được cải thiện nhờ mở rộng công suất và nhu cầu thép phục hồi.
Dung Quất 2 sẽ tiếp tục nâng công suất HRC và mở rộng thị phần, trong khi các dự án thép ray (700.000 tấn/năm, dự kiến vận hành quý I/2027) và thép chất lượng cao (500.000 tấn/năm, dự kiến chạy thử quý IV/2026) sẽ đa dạng hóa sản phẩm và tạo dư địa tăng trưởng.