Chờ "gió lớn" cải cách

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Cho rằng doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn và thiếu lòng tin, TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia, Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) kỳ vọng những giải pháp cải cách của Chính phủ trong năm 2023 sẽ đóng vai trò như cơn “gió lớn” thổi ngọn lửa hy vọng của doanh nghiệp. 
Chờ "gió lớn" cải cách

Là người gần gũi với cộng đồng doanh nghiệp, bà nhận xét thế nào về chất lượng môi trường kinh doanh hiện nay?

Để đánh giá môi trường kinh doanh hiện nay, cần nhìn nhận dưới hai góc độ: thế giới đánh giá về Việt Nam ra sao và nỗ lực cải cách ở trong nước được doanh nghiệp đón nhận thế nào.

Nhìn từ góc độ quốc tế thì hiện nay, một số tổ chức quốc tế đã có sự ghi nhận chuyển biến trên nhiều mặt của Việt Nam. Tuy nhiên, những chỉ số về cải cách thủ tục, thể chế, chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số tự do kinh doanh... của chúng ta vẫn đang đứng ở nhóm gần cuối bảng xếp hạng toàn cầu. Một số chỉ số khác không thay đổi so với các năm trước, nhưng thứ hạng giảm vì các quốc gia khác có sự cải thiện tốt hơn.

Đáng lưu ý, thời gian qua, những chỉ số về quyền tài sản, minh bạch ngân sách, bảo vệ sở hữu trí tuệ, thủ tục hành chính liên quan đến đất đai… của Việt Nam không có sự cải thiện, hoặc cải thiện rất chậm.

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia, Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM).

TS. Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia, Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM).

Hơn 20 năm qua, mặc dù có nhiều nỗ lực hướng tới thúc đẩy quyền tự do kinh doanh, song vẫn còn nhiều rào cản. Các tổ chức thế giới đánh giá quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam chưa được bảo đảm, nhất là quyền tài sản. Gần đây, mức độ can thiệp của Nhà nước vào thị trường dường như có xu hướng tăng lên, ảnh hưởng tới hiệu quả của tự do kinh doanh.

Nhìn từ trong nước, thời gian qua, nền kinh tế trải qua nhiều bất ổn liên tiếp cả bên trong lẫn bên ngoài như đại dịch, xung đột địa chính trị, áp lực giá cả…, khiến doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Thậm chí, doanh nghiệp trong nhiều ngành hàng, lĩnh vực khác nhau đều chung nhận định là mức độ khó khăn chưa từng có.

Trong bối cảnh như vậy, lẽ ra cải cách môi trường kinh doanh cần mạnh mẽ hơn, rộng khắp hơn để đồng hành, chia sẻ, giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp thì dường như những giải pháp này chưa được quan tâm đúng mức, có những thủ tục đâu đó còn khó khăn hơn. Có thể nói, nỗ lực và kết quả cải cách môi trường kinh doanh chưa đạt được yêu cầu của Chính phủ, cũng như chưa đáp ứng được mong mỏi, kỳ vọng của doanh nghiệp.

Các báo cáo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) hàng năm do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố gần đây cũng cho thấy doanh nghiệp còn than phiền nhiều về hồ sơ thủ tục, chi phí tuân thủ, thời gian giải quyết thủ tục hành chính…

Hàng năm, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 01 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm thì sau đó đều ban hành Nghị quyết 02 để đề ra các giải pháp cải cách môi trường kinh doanh nhằm hỗ trợ cho Nghị quyết 01. Vì sao môi trường kinh doanh của chúng ta vẫn bị tụt hạng?

Đáng ghi nhận rằng, có những giai đoạn nỗ lực cải cách môi trường kinh doanh ở nước ta rất mạnh mẽ, quyết liệt và nhờ vậy đã mang lại kết quả rất rõ ràng. Nỗ lực cải cách gần đây nhất là giai đoạn 2015 - 2019. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay, cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh chững lại. Ở một số lĩnh vực thậm chí có đề xuất khôi phục lại những rào cản trước đây đã được dỡ bỏ, điều này dẫn tới triệt tiêu kết quả của cải cách, làm xói mòn lòng tin của doanh nghiệp.

Giai đoạn những năm 2015 - 2019, chúng ta đã đạt được các kết quả cải cách môi trường kinh doanh đáng ghi nhận. Theo tôi, có thể lý giải như sau:

Thứ nhất, có được áp lực, động lực cải cách từ nhiều phía. Giai đoạn này, Chính phủ đặc biệt quyết tâm thực hiện cải cách môi trường kinh doanh và cộng đồng doanh nghiệp có niềm tin, sự hứng khởi trong chia sẻ vấn đề khó khăn của họ cũng như kiến nghị giải pháp, chính sách cụ thể. Sự cộng hưởng ấy tạo ra áp lực, động lực cải cách rất lớn.

Thứ hai, giai đoạn 2015 - 2019 có sự tham gia rất chủ động, nhiệt huyết của các tổ chức nghiên cứu độc lập, VCCI, các cơ quan truyền thông… Sự tham gia với chung mục tiêu của tất cả các cơ quan đã thúc đẩy quá trình tạo áp lực, động lực cải cách.

Thứ ba, người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương cũng quan tâm hơn, chỉ đạo sát sao để giải quyết vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, nhờ vậy, thúc đẩy động lực cải cách tốt hơn.

Từ năm 2020 đến nay, ảnh hưởng của dịch bệnh và nhiều biến động trên thế giới dường như khiến việc cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh chưa được dành sự quan tâm đúng mức. Đầu năm 2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết 02 đặt mục tiêu khá tham vọng, song hành với niềm tin vào sự phục hồi của nền kinh tế.

Tuy vậy, hàng loạt biến động địa chính trị, giá cả, bất ổn của thị trường thế giới… đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, hơn lúc nào hết, doanh nghiệp cần tới sự chia sẻ, đồng hành của Chính phủ, bộ, ngành và địa phương thông qua các chương trình cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh.

Bà vừa nói, có một số cải cách đã đạt được kết quả nhất định trước đây thì hiện nay có xu hướng khôi phục lại những rào cản cũ. Đó là điều gì?

Một ví dụ rõ nét nhất về nút thắt cũ bị khôi phục lại là xu hướng thanh, kiểm tra doanh nghiệp gần đây có dấu hiệu tăng lên. Những cuộc thanh, kiểm tra chủ yếu trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, môi trường, thanh tra theo lĩnh vực chuyên ngành. Hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp dồn dập vào những tháng cuối năm. Không chỉ thanh tra ở cấp bộ, ngành mà ở địa phương cũng dày đặc.

Những giải pháp thúc đẩy tự do kinh doanh, đảm bảo môi trường chính sách an toàn cho doanh nghiệp cần được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và nỗ lực thực thi phải mạnh mẽ hơn.

Điều này tạo tâm lý nặng nề và bất an cho doanh nghiệp khi họ đang rất khó khăn để chèo lái hoạt động sản xuất - kinh doanh trong bối cảnh chịu tác động nặng nề và liên tiếp bởi những tác động của dịch bệnh và thị trường. Dường như các cơ quan quản lý đã quên Chỉ thị 20 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định chỉ kiểm tra một lần trong năm và tránh kiểm tra chồng chéo.

Ngoài ra, doanh nghiệp phản ánh thời gian gần đây họ bị kiểm tra về an toàn phòng cháy chữa cháy quá khắc nghiệt, đặc biệt sau khi xảy ra một số vụ cháy nổ quán karaoke.

Theo phản ánh của cộng đồng doanh nghiệp, quy định về điều kiện đảm bảo phòng cháy chữa cháy chưa khoa học; chưa phân loại theo mức độ rủi ro của ngành nghề sản xuất, kinh doanh; điều kiện quá khắc nghiệt và làm tăng chi phí quá mức cho doanh nghiệp.

Chẳng hạn như yêu cầu công trình, nhà xưởng phải được sơn chống cháy khiến một doanh nghiệp đầu tư 2,8 tỷ đồng xây nhà kho phục vụ hoạt động logistics nhưng chỉ riêng chi phí cho phòng cháy chữa cháy đã lên tới 1 tỷ đồng (bằng gần 1/3 giá trị công trình).

Theo khảo sát, ở các doanh nghiệp sản xuất, trung bình đầu tư sơn chống cháy làm tăng 20% giá thành nhà xưởng. Nhiều doanh nghiệp, thậm chí có doanh nghiệp đang hoạt động ổn định 20 năm nay, cũng phải tạm dừng hoạt động do không đảm bảo yêu cầu về phòng cháy chữa cháy.

Năm 2022, ngoài Nghị quyết 02, Chính phủ còn ban hành Nghị quyết 11 về việc triển khai Nghị quyết 43 của Quốc hội về hỗ trợ phục hồi kinh tế, trong đó có nội dung cải cách môi trường kinh doanh. Quá trình triển khai hai nghị quyết này ra sao và vướng mắc ở chỗ nào?

Tại Nghị quyết 11 của Chương trình phục hồi phát triển kinh tế, Chính phủ đưa ra giải pháp cải cách môi trường kinh doanh khá tương đồng với Nghị quyết 02. Nhưng năm 2022, chúng ta đã tập trung quá nhiều vào các giải pháp bình ổn giá cả, đối phó với biến động của thị trường ngoài nước, khiến cho những cải cách này chưa được quan tâm và thực hiện đúng tầm với vai trò của nó.

Nghị quyết 02 của Chính phủ đặt ra 10 nhóm giải pháp cụ thể, trong đó có giải pháp về thu hẹp ngành nghề kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi thì trong năm qua, các bộ, ngành dường như chưa có động thái nào về rà soát các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thuộc lĩnh vực mình quản lý. Theo rà soát độc lập, chúng tôi nhận thấy rằng số lượng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trên thực tế lớn hơn nhiều số lượng 227 ngành nghề ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2020.

Một số mục tiêu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 11 từng bước được hiện thực, tuy nhiên vẫn còn bất cập trong triển khai các gói hỗ trợ. Ví dụ, gói giảm thuế VAT 2% được doanh nghiệp đánh giá cao nhưng thời gian thực hiện quá ngắn (chỉ hết năm 2022) và áp dụng theo mặt hàng nên cũng gây lúng túng và lo ngại cho doanh nghiệp về thanh tra, kiểm tra thuế. Hay gói hỗ trợ lãi suất 2% với các quy định và điều kiện khó đáp ứng, khiến nhiều doanh nghiệp không tiếp cận được và ngân hàng cũng e ngại khi giải ngân…

Ngoài ra, những vướng mắc đã tồn tại trong thời gian dài như chồng chéo, mâu thuẫn, khác biệt giữa các văn bản pháp luật cũng chậm được khắc phục, nhất là trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng và môi trường.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang xây dựng dự thảo Nghị quyết 02 năm 2023. Là người có 10 năm trực tiếp tham gia Ban soạn thảo, bà có thể cho biết Nghị quyết năm nay sẽ tập trung giải quyết những vấn đề này như thế nào?

Năm 2023, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh tiếp tục được Chính phủ coi trọng và lồng ghép vào Nghị quyết số 01/NQ-CP với tên gọi Nghị quyết về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2023.

Theo đó, Nghị quyết tiếp tục khẳng định mục tiêu nâng hạng các chỉ số về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh đến năm 2025 đã đề ra tại Nghị quyết số 02 năm 2022; đồng thời chú trọng tới 4 nhóm giải pháp cụ thể, gồm: Nâng cao chất lượng cải cách danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa và triển khai hiệu quả Cổng thông tin một cửa quốc gia; chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp tràn lan; rà soát, điều chỉnh kế hoạch thanh tra, kiểm tra để đảm bảo không trùng lặp, chồng chéo; không làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Để việc cải cách môi trường kinh doanh trong năm 2023 đạt được bước tiến mới sau 3 năm “giảm tốc”, theo bà, cần có những giải pháp nào?

Nhiều tổ chức quốc tế dự báo, năm 2023, kinh tế nước ta bên cạnh những thuận lợi thì sẽ đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức hơn. Vì thế, những giải pháp thúc đẩy tự do kinh doanh, đảm bảo môi trường chính sách an toàn cho doanh nghiệp cần được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và nỗ lực thực thi phải mạnh mẽ hơn. Đồng thời, cần khôi phục lại động lực cải cách của chính quyền địa phương. Môi trường kinh doanh sẽ tác động đến cách thức vượt qua khó khăn và mức độ tận dụng cơ hội của các doanh nghiệp trong quá trình phục hồi.

Mỗi chính sách cần được đánh giá tác động tới hoạt động của doanh nghiệp, người dân. Những đánh giá này phải được thực hiện nghiêm túc, có phương pháp khoa học, thay vì chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ. Hoạt động đánh giá tác động chính sách phải được tham vấn rộng rãi các đối tượng bị điều chỉnh, thiết lập cơ chế công khai việc tiếp thu ý kiến đóng góp của các bên liên quan. Đồng thời, cần thiết phải có sự tham gia của đại diện các tổ chức nghiên cứu độc lập, hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp, chuyên gia trong quá trình thẩm định văn bản pháp luật; xây dựng cơ chế tiếp nhận ý kiến và phản hồi ý kiến đối với các đối tượng bị điều chỉnh bởi văn bản pháp luật.

Công cuộc cải cách thành công hay không, không chỉ phụ thuộc vai trò của cơ quan ban hành, mà cần có sự kết hợp ba bên: cơ quan ban hành chính sách, cơ quan thực thi và đối tượng bị tác động bởi chính sách là doanh nghiệp. Thời gian gần đây, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, bởi những bất ổn thị trường, nên mức độ quan tâm tới phản biện chính sách có phần suy giảm. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp cho rằng, có nhiều chương trình hỗ trợ kết quả không như kỳ vọng. Vì thế, họ chưa thực sự tin tưởng vào các chương trình hỗ trợ và giảm dần niềm tin vào những nỗ lực cải cách.

Theo tôi, để khơi gợi niềm tin của doanh nghiệp, Chính phủ cần phải liên tục hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn, cụ thể hơn trong tạo áp lực và động lực cải cách để cải cách hay hỗ trợ không chỉ nằm trên văn bản, mà phải thể hiện bằng kết quả cụ thể trong hành động.

Minh Minh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục