Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân tối thiểu 10%/năm trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu rất lớn đối với khả năng huy động và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế. Trong bối cảnh dư địa của nhiều động lực tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, chính sách tiền tệ tiếp tục được kỳ vọng giữ vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng, nhưng theo hướng linh hoạt, hiệu quả và có trọng tâm hơn.
Nhìn lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng ở mức cao đã góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 19,2%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,1%. Chênh lệch giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản, kéo theo xu hướng tăng lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng vào cuối năm 2025 và những tháng đầu năm 2026.
![]() |
Nguồn: VFS tổng hợp từ FiinPro-X |
Bên cạnh đó, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện thuộc nhóm cao trên thế giới. Theo Fitch Ratings, chỉ tiêu này tăng từ khoảng 134% GDP cuối năm 2024 lên khoảng 145% GDP vào cuối năm 2025. Điều này cho thấy dư địa mở rộng tín dụng theo chiều rộng không còn nhiều, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và kiểm soát rủi ro hệ thống.
Trong bối cảnh đó, từ cuối quý I/2026, NHNN liên tiếp triển khai các giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Ngày 30/3/2026, NHNN ban hành Công văn số 2342/NHNN-CSTT yêu cầu các tổ chức tín dụng giữ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn với chi phí hợp lý. Tiếp đó, tại cuộc họp với 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4/2026, cơ quan điều hành tiếp tục định hướng giảm mặt bằng lãi suất nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.
![]() |
| Biểu đồ so sánh tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP qua từng năm (Nguồn: VFS Tổng hợp từ FiinPro-X) |
Đến tháng 5/2026, NHNN ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, cho phép tính trở lại một phần tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định các tỷ lệ an toàn. Quy định này góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống, qua đó mở rộng khả năng cung ứng tín dụng.
Một bước đi đáng chú ý khác là dự thảo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, trong đó đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%. Nếu được thông qua, đây sẽ là lần đầu tiên sau nhiều năm cơ quan quản lý đảo chiều lộ trình siết giảm tỷ lệ này, phản ánh sự chuyển dịch trong tư duy điều hành từ ưu tiên kiểm soát rủi ro sang hỗ trợ tăng trưởng có chọn lọc.
![]() |
Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn họp với 46 ngân hàng thương mại về điều hành chính sách tiền tệ |
Không chỉ nới các giới hạn kỹ thuật, NHNN còn nghiên cứu cơ chế loại trừ phần dư nợ tăng thêm đối với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và một số dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng thông thường. Nếu được triển khai, chính sách này sẽ góp phần khơi thông nguồn vốn cho các lĩnh vực có sức lan tỏa lớn, tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Song song với việc mở rộng khả năng cung ứng vốn, khuôn khổ pháp lý cũng tiếp tục được hoàn thiện nhằm nâng cao năng lực hấp thụ vốn và sức chống chịu của hệ thống tài chính. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, có hiệu lực từ ngày 15/10/2025, đã luật hóa nhiều quy định quan trọng của Nghị quyết số 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu.
Từ năm 2026, các tổ chức tín dụng có cơ sở pháp lý đầy đủ và ổn định hơn để thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm và đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ. Điều này không chỉ giúp rút ngắn thời gian xử lý nợ xấu, giảm áp lực trích lập dự phòng mà còn giải phóng nguồn vốn đang bị "đóng băng", qua đó nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.
Nhìn tổng thể, chuỗi giải pháp từ ổn định mặt bằng lãi suất, cải thiện thanh khoản, điều chỉnh các giới hạn kỹ thuật, ưu tiên vốn cho lĩnh vực trọng điểm đến hoàn thiện cơ chế xử lý nợ xấu cho thấy định hướng xuyên suốt của NHNN là chuyển từ mở rộng tín dụng theo quy mô sang nâng cao chất lượng phân bổ vốn và hiệu quả tăng trưởng.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc nới lỏng điều kiện tín dụng luôn đi kèm với những rủi ro cần được giám sát chặt chẽ. Việc gia tăng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn vẫn tiềm ẩn rủi ro mất cân đối kỳ hạn. Vì vậy, cùng với việc mở rộng dư địa tín dụng, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục nâng cao năng lực quản trị rủi ro theo các chuẩn mực Basel II và Basel III, bảo đảm an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Chính sách tín dụng linh hoạt có thể tạo thêm động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cùng với cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn và đẩy nhanh giải ngân đầu tư công. Chỉ khi năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế được cải thiện, các chính sách hỗ trợ mới có thể chuyển hóa thành tăng trưởng bền vững trong dài hạn.


