Bốn thập kỷ tạo dựng vị thế
Đã gần tròn 40 năm kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc Đổi mới. Nền kinh tế đã đi được một bước tiến dài trong hành trình ấy.
GS-TS. Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế quốc dân, trong một cuộc hội thảo gần đây về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam, đã nhấn mạnh rất nhiều con số để khẳng định những thành tựu quan trọng mà Việt Nam đã đạt được sau 40 năm Đổi mới.
Đó là quy mô kinh tế Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, từ 6,7 tỷ USD vào năm 1990, xếp thứ 85 thế giới, lên trên 500 tỷ USD vào năm 2025, vươn lên vị trí thứ 35 thế giới, gấp 70 lần so với 35 năm trước. Là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,4%/năm, gấp đôi mức tăng trưởng bình quân của toàn cầu và cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực.
Chưa kể, một loạt chỉ số quan trọng khác cũng có thể được nhắc tới. Không chỉ là con số gần 560 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, tính đến cuối tháng 7/2026, mà còn là kỷ lục trên 930 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu của năm 2025 và vẫn đang tiếp đà tăng mạnh trong năm 2026. Tính đến giữa tháng 8/2026, con số đã lên tới trên 712 tỷ USD. Với kết quả này, Việt Nam đang rộng cửa đón mốc lịch sử 1.000 tỷ USD. Cơ hội lọt nhóm 13-14 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới đang ngày càng gần hơn…
Từ một nước nghèo, khép kín với thế giới, Việt Nam đã vươn mình, trở thành một trong những quốc gia hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu. Vị thế được tạo dựng vững chắc, trở thành điển hình thành công của cải cách và phát triển kinh tế.
Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV đã ban hành Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và đó chính là một bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam.
Kinh tế càng phát triển, GDP bình quân đầu người cũng ngày một tăng. Năm 2025, con số đã là 5.026 USD/người, trong khi vào thời điểm Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi mới, GDP bình quân đầu người chỉ vỏn vẹn 74 USD… Đó cũng chính là lý do để Việt Nam đạt một dấu mốc lịch sử trong năm 2026, vào đúng thời điểm đánh dấu 40 năm Đổi mới của Việt Nam.
Ngân hàng Thế giới (WB) vào đầu tháng 7/2026 đã chính thức đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao, sau khi tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người đạt 4.970 USD vào năm 2025. Mức thu nhập này vượt ngưỡng 4.636 USD - tiêu chí để được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao, theo phân loại mới của WB.
Chuyên gia cao cấp Cao Viết Sinh, người gắn chặt với các tư duy chiến lược mang tính bản lề cho nền kinh tế Việt Nam trong một thời gian dài, cũng là một trong những người tham gia xây dựng Báo cáo “Việt Nam 2035” đầy khát vọng, đã đón nhận thông tin ấy với một sự hồ hởi thấy rõ.
“Năm 2008, WB đưa Việt Nam ra khỏi nhóm thu nhập thấp để xếp vào nhóm thu nhập trung bình thấp. Sau 17 năm, Việt Nam lại được xếp vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Đây là một cột mốc có ý nghĩa lịch sử đối với hành trình phát triển của nền kinh tế và của đất nước Việt Nam”, chuyên gia cao cấp Cao Viết Sinh nói.
WB cho biết, Việt Nam được nâng hạng như trên là nhờ duy trì tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu tích cực. Trong 2 năm 2024-2025, kim ngạch xuất khẩu đã tăng hơn 15%, trong khi tăng trưởng đã nhanh chóng phục hồi mạnh mẽ sau Covid-19 và biến động địa chính trị toàn cầu. Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng 8,02%. GNI của Việt Nam trong giai đoạn 2021-2025 cũng tăng trung bình khoảng 10%/năm. “Đây là một trong những mức tăng trưởng bền vững mạnh nhất khu vực”, các chuyên gia của WB đã khẳng định như vậy.
Chặng đường mới với khát vọng “thu nhập cao”
Nếu 40 năm trước, câu hỏi lớn nhất của Việt Nam là làm thế nào để thoát khỏi nghèo đói và phá thế đóng cửa, thì hôm nay câu hỏi đã hoàn toàn khác. Đó là làm sao Việt Nam có thể hiện thực hóa mục tiêu thịnh vượng, đạt ngưỡng thu nhập cao vào năm 2045?
“Liệu chúng ta có thể đạt được mục tiêu đó không? Đó là một bài toán khó, phải có sự phát triển bứt phá trong 20 năm tới thì mới có thể đạt được”, chuyên gia cao cấp Cao Viết Sinh nói.
Đây thực sự là một bài toán khó, bởi theo tính toán của WB, thu nhập bình quân đầu người theo GNI của Việt Nam phải tăng gần gấp 3 lần hiện nay thì mới có thể bước vào nhóm nước có thu nhập cao. Cũng theo WB, kể từ năm 1990, chỉ có 27 nền kinh tế chuyển thành công từ nhóm nước có thu nhập trung bình lên thu nhập cao và hơn 1/3 trong số đó được hưởng lợi từ những điều kiện đặc thù như gia nhập Liên minh châu Âu (EU) hoặc sở hữu nguồn tài nguyên dồi dào.
Còn Việt Nam, dù đã đạt những thành tựu vượt bậc sau 40 năm Đổi mới, nhưng nền kinh tế đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, không chỉ vì những ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu, mà còn từ các vấn đề trong nội tại, khi mà các động lực tăng trưởng cũ đã tới hạn, mô hình kinh tế dựa nhiều vào đầu tư và xuất nhập khẩu, tài nguyên, lao động giá rẻ, sẽ khó mang lại tốc độ tăng trưởng 2 con số như kỳ vọng trong giai đoạn 2026-2030 và xa hơn nữa…
“Chương tiếp theo của hành trình phát triển của Việt Nam sẽ không chỉ được định hình bởi tốc độ tăng trưởng, mà còn bởi chất lượng của sự tăng trưởng đó - yếu tố then chốt trên con đường Việt Nam tiến tới trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045”, bà Mariam J. Sherman, Giám đốc WB phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào nói.
Cùng quan điểm, ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam nhấn mạnh rằng, chất lượng tăng trưởng cần được đặt ở vị trí trung tâm trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam. “Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã dựa nhiều vào dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) để tăng trưởng. Dù FDI vẫn giữ vai trò quan trọng trong ngắn và trung hạn, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng”, ông Shantanu Chakraborty nói.
Không chỉ các chuyên gia quốc tế nhận thấy điều đó. Câu chuyện đổi mới mô hình tăng trưởng, từ dựa vào vốn, xuất nhập khẩu sang dựa vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo… đã nhiều lần được nhắc tới. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã nhấn mạnh điều này. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng hơn một lần nhấn mạnh rằng, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chính là “chìa khóa” để đi tới thịnh vượng.
Định hình mô hình phát triển mới để đi tới thịnh vượng
Không chỉ là đổi mới mô hình tăng trưởng, bài toán mang tầm lịch sử của Việt Nam bây giờ còn là đổi mới mô hình phát triển. Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV đã ban hành Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và đó chính là một bước chuyển chiến lược trong tư duy phát triển của Việt Nam.
Lần đầu tiên, việc xây dựng mô hình phát triển quốc gia được đặt ra sâu sắc và ở tầm chiến lược như vậy. Thậm chí, khi phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm còn nói rằng, đây là vấn đề “rất lớn, rất mới, chưa có tiền lệ”, có ý nghĩa định hình mô hình phát triển quốc gia đến năm 2045 và xa hơn.
Trong mô hình phát triển ấy, không chỉ là kinh tế, mà còn là quản trị quốc gia, là xã hội, văn hóa, con người, đối ngoại, hội nhập… Với đổi mới mô hình phát triển, mục tiêu đến năm 2045 không chỉ đơn thuần là cột mốc về tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người nữa, mà sẽ trở thành cột mốc về chất lượng phát triển, sự thịnh vượng và hạnh phúc của mỗi người dân…
“Mô hình phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cần chuyển mạnh sang phát triển bao trùm và bền vững. Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, cần coi trọng con người, văn hóa, môi trường, hội nhập quốc tế, đồng thời xây dựng xã hội hiện đại và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nền kinh tế phải vừa hiệu quả, tự chủ, vừa hội nhập sâu rộng, đi cùng hệ thống quản trị quốc gia hiện đại”, GS-TS. Ngô Thắng Lợi nói.
Để đổi mới mô hình phát triển đất nước, Chính phủ cũng đã ban hành Chương trình hành động thực hiện sau Nghị quyết 19-NQ/TW, với 40 chỉ tiêu cụ thể trên các lĩnh vực, bao gồm thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị; kinh tế; xã hội; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh…
Khi mô hình phát triển được định hình, con đường đi đến thịnh vượng vào năm 2045 của Việt Nam sẽ bớt gập ghềnh hơn.