Cấu trúc lại nguồn vốn nền kinh tế: Khó, nhưng vẫn phải làm

Trước tình trạng tiền khan, vốn đắt, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đang nỗ lực tạo thanh khoản, mở dư địa tín dụng để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở việc bơm thêm bao nhiêu tiền, mà ở chỗ dòng tín dụng sẽ đi đâu. Bất động sản như “miếng bọt biển” tham lam, hút bao nhiêu vốn cũng chưa đủ. Nếu ngân hàng tiếp tục đắm chìm vào lĩnh vực này, bài toán lãi suất và thanh khoản sẽ vẫn khó có lời giải.
Quy mô tín dụng tăng gấp đôi trong 5 năm qua, song cần hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thay vì bất động sản

Tín dụng phình to gấp đôi

Chỉ trong vòng 5 năm qua, quy mô tín dụng với nền kinh tế đã tăng gấp đôi, đồng nghĩa với gần 10 triệu tỷ đồng vốn mới đã được bơm ra nền kinh tế. Còn nếu tính trong vòng 10 năm, quy mô tín dụng đã tăng gấp khoảng 4 lần. Tỷ lệ tín dụng/GDP trong 5 năm qua đã tăng từ 124% lên 145% và có nguy cơ tăng lên mức 185% vào năm 2030.

Mặc dù tiền bơm ra nền kinh tế rất nhiều, nhưng câu chuyện thanh khoản, lãi suất của hệ thống lại phụ thuộc lớn vào sự ấm lạnh của thị trường bất động sản. Thực trạng này cho thấy, tiền không thiếu, song cách vận hành dòng tiền lại có vấn đề.

Theo các chuyên gia, hiện nay, một tỷ trọng lớn tín dụng được đổ vào bất động sản mà không chảy vào sản xuất, kinh doanh. Thậm chí, tại một số ngân hàng, tỷ trọng cho vay bất động sản và liên quan lên tới 70% tổng danh mục. Điều này không chỉ khiến doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thiếu vốn, mà còn sinh ra hiệu ứng lấn át.

Biên lợi nhuận cao ngất ngưởng khiến doanh nghiệp bất động sản sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao, trong khi khu vực sản xuất do biên lợi nhuận mỏng khó chấp nhận vốn đắt và phải nhường sân. Bất động sản càng hấp thụ vốn khỏe thì lãi suất càng tăng và mặt bằng lãi suất càng trở nên đắt đỏ. Đáng nói, tình trạng này không chỉ diễn ra ngày một ngày hai, mà đã diễn ra trong một thời gian rất dài.

Hiện nay, hệ thống ngân hàng đang trong tình trạng khát thanh khoản, lãi suất huy động bị đẩy lên cao (trên 9%/năm). Tình trạng này không chỉ do nhu cầu vốn tăng mạnh để phục vụ tăng trưởng 2 con số thời gian gần đây, mà là hệ lụy của quá trình phân bổ vốn “lệch pha” trong cả thời gian dài. Do đó, các giải pháp hành chính như yêu cầu giảm lãi suất hay nới một số tỷ lệ để tạo thanh khoản, tạo dư địa tăng trưởng tín dụng không thể giải quyết được tận gốc vấn đề thanh khoản, cũng không thể kéo mặt bằng lãi suất giảm xuống một cách thực chất.

Tại buổi làm việc với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các ngân hàng thương mại mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã yêu cầu các ngân hàng thương mại tiếp tục tiết giảm chi phí, giảm thực chất lãi suất cho vay, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, phục vụ tăng trưởng và kiểm soát chặt chẽ rủi ro.

Các chuyên gia phân tích cho rằng, đây là những yêu cầu vô cùng cấp thiết để ngăn lãi suất tiếp tục leo thang, vì lãi suất huy động đang gần chạm mức nguy hiểm. Ông Trần Ngọc Báu, CEO Wigroup cho rằng, lãi suất huy động khó giảm sâu, song nếu duy trì ở mức 7-8% sẽ đủ để cân bằng. Còn nếu leo lên trên 10%/năm sẽ tạo sự đổ vỡ hệ thống, buộc Chính phủ phải can thiệp. Trong lịch sử, các cuộc đua lãi suất đều dẫn tới hệ lụy là nền kinh tế bị tàn phá, rơi vào tình trạng suy giảm nhiều năm.

Tâm lý lo lắng vì lãi suất tăng không chỉ diễn ra với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, mà còn lan tỏa sang thị trường vốn. Trong báo cáo phân tích mới đây, nhóm phân tích của SGI Capital - công ty quản lý quỹ mở The Ballad Fund cảnh báo, tâm lý nhà đầu tư đang chuyển dần từ lo ngại băn khoăn sang chối bỏ và sẽ chuyển sang pha sợ hãi nếu lãi suất tiền gửi tiếp tục tăng vượt 10%/năm thời gian tới.

Sau chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, mặt bằng lãi suất trên thị trường đã chững lại, các ngân hàng cũng tung ra nhiều gói tín dụng ưu đãi với tổng quy mô lên tới hàng trăm ngàn tỷ đồng. Dù vậy, việc giảm lãi suất bình quân toàn hệ thống không thể diễn ra trong một vài quý, mà sẽ mất rất nhiều thời gian, khi dòng tín dụng thực sự “bẻ lái” từ bất động sản sang các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Ông Trần Hùng Huy, Chủ tịch HĐQT ACB cho rằng, vấn đề căn cơ nhất hiện nay là làm thế nào để dòng vốn được khơi thông và đi đúng vào khu vực tạo ra giá trị, tạo thêm động lực cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đẩy nhanh xử lý nợ và giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc, đồng thời chủ động xây dựng hành lang cho những động lực tăng trưởng mới như tài sản số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

“Trong một thế giới đang thay đổi rất nhanh, dư địa tăng trưởng của Việt Nam sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, chất lượng thể chế và năng lực đổi mới của cả nền kinh tế. Khi dòng vốn, công nghệ và chính sách cùng được kết nối đúng hướng, hệ thống tài chính sẽ không chỉ đóng vai trò cung ứng vốn, mà có thể trở thành một trong những hạ tầng chiến lược kiến tạo tăng trưởng quốc gia”, ông Trần Hùng Huy nhận định.

Nắn dòng tín dụng, hạ nhiệt lãi suất

Từ năm 2021 đến nay, tín dụng luôn chạy nhanh hơn huy động vốn, dẫn đến chênh lệch huy động/cho vay hiện đã lên tới 2 triệu tỷ đồng. Trong giai đoạn 2026-2030, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gây áp lực lớn cho tín dụng ngân hàng cũng như thanh khoản và lãi suất.

Chỉ riêng trong tháng 6 - 7/2026, có 4 doanh nghiệp là Vingroup, Sun Group, Masterise và THACO đã kiến nghị cơ chế tín dụng cho 35 dự án trọng điểm quốc gia có tính lan tỏa, với tổng nhu cầu vay hơn 1,7 triệu tỷ đồng.

Hiện nay, cùng với yêu cầu giảm lãi suất, Chính phủ đã chỉ đạo NHNN và Bộ Tài chính tháo gỡ vấn đề thanh khoản. Nhiều khả năng, trần tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại sẽ được nâng từ 50% hiện nay lên 80% vào đầu năm tới. Khi đó, hệ thống ngân hàng sẽ được bơm thêm khoảng 400.000 tỷ đồng, làm dịu cơn khát thanh khoản. Dù vậy, tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng là nguồn tiền không bền vững, phụ thuộc vào tốc độ giải ngân đầu tư công.

Để phục vụ nhu cầu vốn cho tăng trưởng, bên cạnh nắn dòng tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên, việc đa dạng hóa kênh huy động vốn là bắt buộc. Hiện tỷ lệ đòn bẩy tín dụng ở Việt Nam quá cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế. Nếu tín dụng tiếp tục tăng quá xa so với khả năng huy động vốn, nguy cơ đổ vỡ là khó tránh khỏi.

PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) cho rằng, ngân hàng nên tài trợ vốn giai đoạn đầu (vốn mồi) và tập trung vào vốn cầu nối. Các khoản vay này phải có dòng tiền trả nợ tương đối rõ ràng. Riêng cầu vốn dài hạn phải được huy động nhiều hơn từ thị trường vốn (trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án, các quỹ, vốn quốc tế…). Ngoài ra, để cho vay các dự án dài hạn, các nhà băng cũng phải tìm được nguồn huy động dài hạn (phát hành trái phiếu, chứng chỉ, vay vốn quốc tế).

Tại buổi làm việc với NHNN và các ngân hàng thương mại mới đây, Thủ tướng cũng chỉ đạo Bộ Tài chính thực hiện hiệu quả, đúng thời hạn các nhiệm vụ được giao về cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026); triển khai các giải pháp phát triển thị trường vốn để cung ứng vốn cho nền kinh tế trong trung và dài hạn; đẩy mạnh giải ngân đầu tư công; xây dựng các sản phẩm tài chính và sớm đưa Trung tâm Tài chính quốc tế vào vận hành an toàn, minh bạch, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế; nghiên cứu tham mưu tăng huy động nguồn vốn quốc tế…

Công cụ hiệu quả để huy động thêm nguồn lực

- Ông Nguyễn Anh Khoa, Giám đốc Phân tích, CTCP Chứng khoán Agribank (Agriseco)

Chúng ta đang quyết liệt triển khai thành lập và đưa vào hoạt động 2 trung tâm tài chính quốc tế, mục đích chính là thu hút dòng vốn ngoại với chi phí rẻ. Hiện 2 trung tâm này đang xúc tiến triển khai thí điểm nhiều sản phẩm mới như: tiền số, tín chỉ các-bon, trái phiếu xanh… để thu hút dòng vốn này.

Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ là công cụ hiệu quả để Việt Nam huy động thêm nguồn lực quốc tế, cùng với nguồn lực trong nước. Tuy vậy, bên cạnh công cụ này, chúng ta cũng phải có giải pháp nâng hạng tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Một khi được nâng hạng, chi phí vay vốn quốc tế của chúng ta sẽ giảm xuống. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ giúp nền kinh tế được bổ sung nguồn vốn quan trọng, đáp ứng nhu cầu phát triển 2 con số giai đoạn tới.

Thùy Liên
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục