Tham vọng tăng trưởng và áp lực nguồn vốn
Tại Hội thảo “Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số” diễn ra ngày 12/3, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Theo đó, trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân từ 10%/năm trở lên, tức tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tiếp. Thứ trưởng khẳng định đây là mục tiêu “rất vĩ đại và rất tham vọng”. Không chỉ là mục tiêu trong ngắn hạn, yêu cầu tăng trưởng cao còn kéo dài trong nhiều năm, đặt ra thách thức lớn trong bối cảnh kinh tế và địa chính trị thế giới, khu vực đang biến động mạnh.
“Trong giai đoạn 2026-2030, chúng ta phải huy động nguồn lực rất lớn phục vụ đầu tư phát triển kinh tế”, ông Chi nhấn mạnh.
Thực tế, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận những kết quả tích cực trong năm 2025. Tăng trưởng GDP đạt 8,02%, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 930 tỷ USD - mức cao kỷ lục. Vốn đầu tư công thực hiện cả năm ước đạt 850,7 nghìn tỷ đồng, cao nhất trong 5 năm gần đây.
Đáng chú ý, tổng khối lượng huy động vốn trên thị trường đạt trên 1,15 triệu tỷ đồng - mức cao nhất từ trước đến nay. Trong đó, huy động vốn từ trái phiếu đạt trên 1 triệu tỷ đồng, còn huy động từ cổ phiếu đạt hơn 150 nghìn tỷ đồng.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, dù đạt được những kết quả tích cực, nền kinh tế vẫn đối mặt nhiều khó khăn trong giai đoạn tới. Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển là rất lớn, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng chiến lược như kết nối Bắc - Nam, kết nối khu vực và quốc tế.
Không chỉ khu vực công, khu vực doanh nghiệp cũng đang đứng trước nhu cầu vốn rất lớn. Bản thân các doanh nghiệp cũng cần nguồn lực lớn để vừa duy trì hoạt động trong bối cảnh biến động, vừa đầu tư, nghiên cứu và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Trong khi đó, quy mô thị trường vốn trong nước vẫn còn khiêm tốn. Hệ thống nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp chưa đa dạng cả về loại hình lẫn năng lực tài chính. Các quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng, còn việc thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vẫn tồn tại một số hạn chế.
Theo Thứ trưởng, trước những yêu cầu mới của nền kinh tế, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo quyết tâm khơi thông các điểm nghẽn, giải phóng mọi nguồn lực để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn tới.
Nhu cầu vốn khổng lồ cho giai đoạn tăng trưởng mới
Chia sẻ tại Hội thảo, bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính cho biết, kinh tế thế giới đang trải qua giai đoạn chuyển đổi sâu rộng về mô hình tăng trưởng, trật tự thương mại và cấu trúc tài chính.
Các báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới gần đây của International Monetary Fund và World Bank cho thấy tăng trưởng toàn cầu vẫn duy trì ở mức thấp hơn giai đoạn trước đại dịch. Lãi suất duy trì ở mức cao, trong khi rủi ro nợ công, phân mảnh thương mại và biến động địa chính trị tiếp tục gia tăng. Bên cạnh đó, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, dịch chuyển đầu tư và cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn đang làm thay đổi dòng vốn và thương mại quốc tế.
| |
Bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính, Bộ Tài chính |
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn 2026-2030, tạo nền tảng để trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến tới thu nhập cao vào năm 2045. Tuy nhiên, yêu cầu tăng trưởng cao trong khi vẫn phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì an toàn nợ công và các cân đối lớn của nền kinh tế đặt ra áp lực rất lớn đối với chính sách tài chính.
Theo tính toán, để duy trì tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021-2025, khi tổng vốn đầu tư đạt khoảng 17,4 triệu tỷ đồng. Điều này đồng nghĩa với việc vốn đầu tư toàn xã hội phải tăng bình quân khoảng 16%/năm và nâng tỷ lệ đầu tư trên GDP từ khoảng 33% trong giai đoạn trước lên khoảng 40% trong giai đoạn tới.
Trong những năm gần đây, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức 32-34% GDP, một tỷ lệ khá cao đối với nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, so với các quốc gia từng duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài, quy mô vốn đầu tư của Việt Nam vẫn chưa đủ để tạo ra bứt phá mạnh mẽ.
Do đó, bà Tâm cho biết, bên cạnh việc gia tăng quy mô vốn đầu tư, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trở thành yếu tố quyết định. Chính phủ đã đặt mục tiêu giảm hệ số ICOR từ mức bình quân khoảng 6,3 giai đoạn 2021-2025 xuống còn khoảng 4,8 giai đoạn 2026-2030. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn đầu tư để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước đây.
“Xét theo cơ cấu, vốn đầu tư nhà nước dự kiến tăng bình quân khoảng 22%/năm; vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng khoảng 20%/năm; trong khi vốn đầu tư nước ngoài tăng khoảng 18%/năm. Cơ cấu này cho thấy tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước, mà phải dựa vào sự bứt phá đồng thời của khu vực tư nhân trong nước và dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao”, bà Tâm nói.
Chính sách tài chính mở đường khơi thông dòng vốn
Bà Tâm cho biết thêm, trong nhiều năm qua, ngân sách nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, đa dạng hóa nguồn lực và phát huy vai trò khu vực tư nhân sẽ trở nên đặc biệt quan trọng.
Trên cơ sở đó, bà Tâm nhận định, chính sách tài chính được định hướng tập trung vào một số trụ cột lớn.
Trước hết, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm và phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm thanh khoản hệ thống tài chính.
Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước sẽ đóng vai trò “vốn mồi”, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, tạo điều kiện để khu vực tư nhân tham gia đầu tư. Việc phân bổ vốn sẽ gắn với quy hoạch quốc gia và quy hoạch vùng nhằm hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải.
Một trụ cột quan trọng khác là phát triển thị trường vốn hiện đại, minh bạch và an toàn. Trong đó, tập trung nâng cao quy mô và chất lượng thị trường trái phiếu Chính phủ, tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp và phát triển các nhà đầu tư tổ chức dài hạn như quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm.
Song song với đó, chính sách tài chính cũng hướng tới việc khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào thị trường Việt Nam.
Về phía ngân sách, bà Tâm cho biết, Bộ Tài chính đặt trọng tâm củng cố nền tảng thu và cơ cấu lại chi ngân sách, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, kiểm soát chặt chi thường xuyên và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về kinh tế nhà nước cũng được xác định là nội dung quan trọng nhằm theo dõi và đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của các tập đoàn, tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước, qua đó bảo đảm mục tiêu thu ngân sách hàng năm.
| |
Toàn cảnh Hội thảo |
Ngoài ra, hợp tác công - tư (PPP) được xác định là công cụ quan trọng để huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho các dự án hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số. Theo định hướng, cơ chế PPP sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định và đủ hấp dẫn đối với nhà đầu tư, đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu và chuẩn hóa hợp đồng dự án.
Bên cạnh việc huy động vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng là yếu tố quyết định đối với tăng trưởng bền vững. Trọng tâm là cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính và rút ngắn quy trình phê duyệt dự án.
Thực tế cho thấy, chỉ khi nguồn vốn được phân bổ hiệu quả, việc mở rộng đầu tư mới thực sự chuyển hóa thành tăng trưởng kinh tế bền vững. Mục tiêu tăng trưởng hai con số vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực lớn mà còn đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong cách thức thiết kế chính sách tài chính.
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, cùng kỷ luật tài khóa nghiêm minh và sự phát triển của thị trường vốn hiện đại, chính sách tài chính được kỳ vọng sẽ trở thành đòn bẩy chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn tới.