Cân bằng mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Trong khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế tiếp tục được ưu tiên, bài toán về việc điều phối dòng vốn tín dụng sao cho hiệu quả, tránh gây áp lực quá mức lên hệ thống ngân hàng, đảm bảo ổn định vĩ mô trở thành vấn đề then chốt trong năm nay.

Tập trung vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh

Theo kế hoạch từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng năm 2026 dự kiến đạt khoảng 15%. Tuy nhiên, con số này không cố định, mà sẽ được điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy theo diễn biến thực tế của thị trường, nhằm đảm bảo kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. NHNN khẳng định sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng để hỗ trợ tăng trưởng.

Một điểm đáng chú ý trong chỉ đạo của NHNN với các tổ chức tín dụng (TCTD) là kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là bất động sản. NHNN yêu cầu các TCTD phải đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng cho bất động sản không được vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính tổ chức đó so với thời điểm cuối năm 2025. Thay vào đó, dòng vốn sẽ được định hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

TS Huỳnh Trung Minh, chuyên gia tài chính nhận định, chính sách tiền tệ năm 2026 hướng đến sự bền vững dài hạn bằng việc ưu tiên thanh khoản, sự ổn định hệ thống ngân hàng hơn là những chỉ số tăng trưởng nóng.

Năm 2026 được coi là “năm bản lề” khi nền kinh tế phải cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng cao và kiểm soát lạm phát trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn quá nhiều. Sức hấp thụ vốn năm 2026 được giới phân tích dự báo, sẽ không bùng nổ ồ ạt như giai đoạn trước mà sẽ phân hóa mạnh. Dòng vốn tín dụng sẽ chảy mạnh vào các doanh nghiệp công nghệ, sản xuất xanh và các dự án hạ tầng trọng điểm, trong khi đó các lĩnh vực mang tính đầu cơ sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và không thể kỳ vọng vốn rẻ.

Không lo thiếu vốn

Mặc dù có những cảnh báo từ chuyên gia, kết quả điều tra của NHNN cho thấy, các TCTD vẫn có cái nhìn khá tích cực về triển vọng tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cụ thể, các TCTD dự báo tăng trưởng tín dụng có thể đạt mức 18,1% trong năm nay - mức kỳ vọng cao nhất kể từ năm 2020.

Về mặt thanh khoản, dù cuối năm 2025 có những khó khăn nhất định khiến lãi suất liên ngân hàng tăng cao, các TCTD kỳ vọng tình hình sẽ cải thiện tốt hơn trong năm 2026.

Nhận định được bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng giám đốc của Standard Chartered Việt Nam đưa ra, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 thấp hơn mức 19% thực hiện trong năm 2025 khiến một số ý kiến lo ngại về việc thiếu hụt vốn, nhất là khi áp dụng quan điểm truyền thống “để có 1 đồng GDP cần 2 đồng tín dụng”. Tuy nhiên, theo bà Hạnh, nếu nhìn vào lịch sử ngành ngân hàng, con số 15% vẫn cao hơn đáng kể so với nhiều năm trước đó. Ngoài ra, mức tăng trưởng 15% được đưa ra cho năm nay dựa trên nền tảng dư nợ lớn của năm trước là hoàn toàn đủ sức để hỗ trợ nền kinh tế và đáp ứng kỳ vọng tăng trưởng của Chính phủ.

“Vấn đề cốt lõi không nằm ở con số tổng thể mà là cách thức phân bổ dòng vốn. Thay vì tập trung quá mức vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, chiến lược năm nay là giải ngân đều đặn và ưu tiên vốn cho sản xuất, cũng như bất động sản phục vụ nhu cầu thực”, bà Hạnh nói và cho rằng, việc trải dài đà tăng trưởng tín dụng ra các quý trong năm sẽ giúp hệ thống ngân hàng kiểm soát nợ xấu tốt hơn và đảm bảo nguồn vốn đi đúng vào những nơi tạo ra giá trị kinh tế thực chất.

Theo bà Hạnh, chiến lược cho vay của Standard Chartered Việt Nam trong năm nay là các doanh nghiệp nằm trong khu công nghiệp và khu chế xuất (đa phần là các doanh nghiệp FDI) tiếp tục được ưu tiên tiếp cận vốn do tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

Một điểm mới trong định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm nay là việc NHNN phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 25% cho mỗi quý. Đây là một áp lực để các doanh nghiệp nâng tầm quản trị doanh nghiệp. Đáng chú ý là đối với các ngành nghề có tính chu kỳ cao (mùa cao điểm cuối năm), định hướng này yêu cầu doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và sát sao hơn ngay từ đầu năm. Song bà Hạnh cho rằng, khi doanh nghiệp chủ động được lộ trình tài chính, họ sẽ vận hành nhịp nhàng với sự điều phối của cơ quan quản lý, tránh tình trạng bị động, hụt hơi trước các biến động về hạn mức tín dụng vào giai đoạn nước rút.

Thùy Vinh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục