Kinh tế Việt Nam tiếp tục là “điểm sáng” của khu vực và thế giới
Báo cáo tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 6/2026 và Hội nghị Chính phủ với các địa phương sáng nay, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đạt nhiều kết quả quan trọng, tiếp tục là điểm sáng của khu vực và thế giới.
“Các tổ chức quốc tế cũng dự báo tích cực về tăng trưởng, lạm phát nước ta”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nói và cho biết, nền kinh tế đã tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trên hầu hết các lĩnh vực; tập trung thúc đẩy các động lực tăng trưởng truyền thống đồng thời phát triển các động lực tăng trưởng mới.
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tới tham dự Phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 6/2026 và Hội nghị Chính phủ với các địa phương (Ảnh: VGP) |
Rất nhiều chỉ số đã được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn viện dẫn. Trong đó, tăng trưởng GDP là một trong những chỉ số quan trọng nhất.
Cụ thể, GDP quý II ước tăng 8,39% so với cùng kỳ; 6 tháng ước đạt 8,18%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất từ năm 2011 đến nay. Trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đóng góp trên 88% vào tăng trưởng. Trong khu vực này, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 2 con số (đóng góp trên 33% vào tăng trưởng).
“Có 9 địa phương tăng trưởng 2 con số; Hà Nội và TP.HCM tăng trưởng tích cực hơn so với dự báo vào thời điểm tháng 5. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt 169.800 doanh nghiệp, tăng 11,2%, cao hơn số rút lui khỏi thị trường”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Các chỉ số quan trọng khác: Tiêu dùng quý II tăng 13,9% so với cùng kỳ, 6 tháng tăng 12,9%; khách quốc tế đạt kỷ lục là 12,25 triệu lượt, tăng gần 14,9%. Cùng với đó, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt trên 1,8 triệu tỷ đồng, tăng gần 13%...
Một điểm sáng được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhắc đến, đó là vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt trên 34,6 tỷ USD, tăng 61%; vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt gần 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%.
Cùng với đó, xuất nhập khẩu ước đạt 549,6 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 266,5 tỷ USD, tăng 21%, tăng cao nhất từ năm 2022 đến nay, nhập khẩu đạt 283,1 tỷ USD, tăng 33,4%. Nhập khẩu tăng, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, chủ yếu là do nhập nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và do giá dầu, linh kiện điện tử thế giới tăng.
Trong tình hình tích cực chung như vậy, điều quan trọng, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, là kinh tế vĩ mô vẫn cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, an ninh năng lượng được đảm bảo.
Cụ thể, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước; bình quân 6 tháng tăng 4,38% so với cùng kỳ, trong phạm vi mục tiêu cả năm. Thu ngân sách nhà nước 6 tháng ước đạt gần 1,57 triệu tỷ đồng, đạt 62% dự toán, tăng 17,2%, trong khi đã miễn, giảm thuế, phí ước khoảng 89.000 tỷ đồng; gia hạn thuế với quy mô khoảng 125.000 tỷ đồng…
“Giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện khi trong tháng 6, giải ngân được gần 137.600 tỷ đồng, tính chung 6 tháng đạt gần 357.000 tỷ đồng, đạt 35,5% kế hoạch, tương đương về tỷ lệ so với cùng kỳ và cao hơn 38.400 tỷ đồng về số tuyệt đối”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn báo cáo Chính phủ như vậy.
Cùng với đó, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt; thị trường tiền tệ, ngoại hối, tỷ giá cơ bản ổn định; thị trường vốn được tập trung phát triển; giá trị đăng ký huy động vốn 6 tháng đạt gần 325.300 tỷ đồng, tăng 15,8%; sàn giao dịch tín chỉ carbon đã được khai trương trong tháng 6…
Nhiều thách thức cho tăng trưởng 2 con số
Mặc dù rất nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy nền kinh tế Việt Nam là “điểm sáng”, nhưng Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn vẫn cho rằng, vẫn còn nhiều thách thức để tăng trưởng 2 con số.
Theo Bộ trưởng, tăng trưởng GDP 6 tháng mặc dù cao nhất từ trước tới nay, nhưng vẫn thấp hơn 1,52 điểm % so với mục tiêu, tạo áp lực lớn lên những tháng cuối năm. Lạm phát 6 tháng cũng đã tiệm cận mục tiêu cả năm.
![]() |
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn (Ảnh: VGP) |
“Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, tăng trưởng 6 tháng cuối năm của cả nước cần đạt 11,7%; đồng thời, phấn đấu kiểm soát lạm phát theo mục tiêu (khoảng 4,5%)”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Trong khi đó, tiêu dùng tăng thấp hơn cùng kỳ; giải ngân đầu tư công vẫn chưa đạt kỳ vọng, đặc biệt là giải ngân các dự án khoa học - công nghệ, chủ yếu do vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, khan hiếm nhân công và nguyên vật liệu, cũng như do công tác chuẩn bị dự án còn yếu, tổ chức thực hiện chưa chủ động, thiếu quyết liệt mặc dù thể chế đầu tư công, đấu thầu đã được sửa đổi, cắt giảm tối đa quy trình, thủ tục theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền cho các bộ, địa phương.
Cùng với đó, nhập siêu tháng 6 có xu hướng chậm lại, nhưng 6 tháng vẫn ở mức 16,65 tỷ USD; cân đối nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực khi huy động vốn tăng chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng; thiên tai, bão lũ, thời tiết cực đoan hơn…
Chỉ ra những khó khăn của nền kinh tế như vậy, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho rằng, nhiệm vụ những tháng cuối năm là rất nặng nề. Tuy vậy, vẫn còn nhiều yếu tố thuận lợi hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
Chẳng hạn, với kiểm soát lạm phát, thì điểm thuận lợi là giá dầu thế giới đã giảm. Về tăng trưởng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 168/NQ-CP, số 169/NQ-CP với các giải pháp cụ thể về tăng trưởng 2 con số trong năm 2026.
Cùng với đó, rất quan trọng, Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 18-KL/TW, 10 Nghị quyết đột phá; thể chế, chính sách đã ban hành cơ bản đầy đủ, tháo gỡ cơ bản các điểm nghẽn, thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã được cắt giảm trên quy mô lớn…
Để đạt mục tiêu đề ra, Bộ Tài chính đã kiến nghị một loạt nhiệm vụ trọng tâm cần thực thi trong thời gian tới.
Trong đó, riêng về điều hành chính sách tài khóa, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục tham mưu điều hành chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; phát triển sâu rộng thị trường chứng khoán. Các bộ, địa phương tập trung giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, bảo đảm hiệu quả thực chất; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, dành nguồn cho đầu tư và an sinh xã hội.
Cùng với đó, Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, địa phương thiết lập cơ chế điều phối liên vùng trong quản lý nguồn cung vật liệu xây dựng, bảo đảm cho đầu tư công, đặc biệt là các công trình trọng điểm quốc gia.
Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, tỷ giá bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế; kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên; đẩy mạnh xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng…
Trong khi đó, Bộ Công Thương phối hợp với các hiệp hội, doanh nghiệp lớn, các địa phương kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, dự án, nhất là các dự án đầu tư, vận hành, mở rộng, tạo năng lực sản xuất mới; hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường, khai thác hiệu quả các FTA đã ký kết…
“Các bộ, ngành, địa phương phải chủ động, quyết liệt, đổi mới hơn nữa trong tổ chức thực thi, phát huy trách nhiệm người đứng đầu và từng cán bộ, công chức, nâng cao hiệu quả thực thi”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.

