Tại họp báo Chính phủ chiều 4/3, báo chí đặt câu hỏi đối với đại diện Bộ Tài chính và đề nghị cho biết thông tin: "Theo công bố mới nhất, có hơn 1,67 triệu tỷ đồng được khơi thông từ 3.289 dự án đất đai tồn đọng, chậm triển khai. Chính phủ có cơ chế giám sát và bảo đảm như thế nào để nguồn lực này thực sự được đưa vào khai thác, tạo đà tăng trưởng thực chất, đồng thời tháo gỡ được vướng mắc, vừa không phát sinh rủi ro mới?".
Trả lời, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, trong quá trình xử lý khó khăn đối với các dự án nêu trên, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo 3 nguyên tắc xuyên suốt:
Một là, phải xử lý theo hành lang pháp lý hiện hành;
Hai là, quá trình tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phải xử lý các vi phạm của cá nhân, tổ chức có liên quan trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, không hợp thức hóa các sai phạm và không làm phát sinh sai phạm mới;
Ba là, đẩy mạnh phân cấp cho các địa phương trực tiếp xử lý dứt điểm theo đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật sau khi đã có các cơ chế chính sách cấp thẩm quyền cho phép tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Đối với các dự án cần có chính sách đặc thù, trình Quốc hội cho phép áp dụng để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Trong quá trình xây dựng chính sách, trình Quốc hội, Chính phủ đã xây dựng, đề xuất các cơ chế giám sát, tổ chức thực hiện, đảm bảo việc thực thi chính sách chặt chẽ, đúng đối tượng, không để phát sinh sai phạm mới.
Trên cơ sở kiến nghị của Chính phủ, tại các Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn như Nghị quyết số 170/2024/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án, giao cho Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội không để phát sinh tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện, không hợp thức hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới, không để xảy ra việc trục lợi chính sách, lợi ích nhóm, thất thoát lãng phí.
Chính phủ đã cụ thể hóa chủ trương trên tại Nghị quyết, Nghị định hướng dẫn để các bộ, địa phương thực hiện tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án có hiệu quả, chặt chẽ về mặt pháp lý.
Đồng thời, Nghị quyết của Quốc hội cũng giao các cơ quan Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Kiểm toán Nhà nước phối hợp giám sát, tổ chức thực hiện các chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn theo quy định pháp luật và Nghị quyết Quốc hội đảm bảo việc thực hiện chính sách đúng quy định.
Đối với các dự án khó khăn, vướng mắc, các bộ, địa phương chủ động xử lý theo thẩm quyền.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, trong thời gian qua, Chính phủ đã tích cực rà soát, nhận diện các khó khăn vướng mắc trong việc thực thi các luật, nghị định liên quan đến nhiều lĩnh vực đầu tư, sản xuất - kinh doanh, đất đai, xây dựng... để trình Quốc hội sửa đổi, ban hành mới.
Theo đó, các cơ chế giám sát việc thực hiện dự án đã được thể chế hóa trong các văn bản pháp lý hiện hành như Luật sửa đổi các Luật Đầu tư, Luật Đầu tư công, Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Đất đai và các nghị định hướng dẫn.
![]() |
Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi trả lời tại họp báo Chính phủ chiều 4/3 |
"Việc này đã tạo hành lang pháp lý mới để xử lý khó khăn vướng mắc của các dự án này. Trên cơ sở đó, các bộ, địa phương chủ động rà soát, tháo gỡ cho các dự án, để các dự án sớm được triển khai tiếp, sớm hoàn thành và đưa vào vận hành nhằm nâng cao năng lực kinh tế xã hội cho đất nước", Thứ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, cũng theo đại diện Bộ Tài chính, trong quá trình tổng hợp, xây dựng cơ chế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài, Ban chỉ đạo 751 cũng đã tích cực tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ ban hành nhiều công điện, nghị quyết về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án theo tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm trên cơ sở pháp lý hiện hành.
Đồng thời, Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương báo cáo kết quả xử lý khó khăn, vướng mắc của từng dự án về Bộ Tài chính và cập nhật trên Hệ thống 751 định kỳ ngày 25 hằng tháng để Ban Chỉ đạo theo dõi, giám sát, đánh giá và kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả tháo gỡ, đảm bảo minh bạch, hiệu quả và thực sự các giải pháp khả thi và tháo gỡ được các khó khăn cho các dự án này.
Cũng tại họp báo, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi đã trả lời về khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng quý I/2026 trong điều kiện kinh tế thế giới còn nhiều biến động khó lường, đặc biệt liên quan đến chính sách thương mại về thuế quan của các đối tác lớn cũng như việc ưu tiên nguồn lực và điều hành chính sách đối với các lĩnh vực then chốt như đầu tư công, đất đai, năng lượng... nhằm giữ được ổn định vĩ mô và đạt được mục tiêu tăng trưởng 2026.
Theo Thứ trưởng, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2026, trong đó yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.
Đồng thời, Nghị quyết đã xác định kịch bản tăng trưởng GDP theo từng quý và các chỉ tiêu cụ thể cho từng nhóm ngành, lĩnh vực.Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai ngay các công việc nhằm giữ đà, giữ nhịp; thực hiện quyết liệt, hiệu quả các quyết sách của Đảng và Nhà nước.
![]() |
Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nêu nhóm giải pháp để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo. |
Trong bối cảnh tình hình thế giới dự báo tiếp tục khó lường, nhất là căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, cạnh tranh chiến lược, chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn; kinh tế toàn cầu dự báo tăng trưởng chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro; trong nước, khối lượng công việc cần triển khai ngay sau Tết là rất lớn, yêu cầu phải khẩn trương, quyết liệt, tập trung xử lý.
Theo đó, để đảm bảo hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, cần tập trung thực hiện một số nhóm giải pháp sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh;
Thứ hai, tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, nợ công, bội chi NSNN trong giới hạn quy định; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế, thương mại thế giới; thúc đầy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới;
Thứ ba, chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của chiến lược phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế;
Thứ tư, tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, hệ thống giao thông trục quốc gia, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển, năng lượng; thúc đầy các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số; điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh mới;
Thứ năm, tạo đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.
"Đây là những giải pháp không chỉ riêng quý I mà là trong năm 2026, giai đoạn 2026 -2030", ông Chi nhấn mạnh.

