Bảo hiểm xã hội hướng tới phát triển bền vững

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) ra đời từ năm 2008 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2014, là cơ sở pháp lý thể chế hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách tài chính - y tế công thông qua BHYT toàn dân theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. 
Quyền lợi của người tham gia BHYT luôn được đảm bảo. Quyền lợi của người tham gia BHYT luôn được đảm bảo.

Thực tiễn cho thấy chính sách, pháp luật BHYT ngày càng hoàn thiện, con đường tiến tới thực hiện BHYT toàn dân được chỉ rõ tại các văn kiện của Đảng, quy định trong Luật BHYT và đang dần trở thành hiện thực. Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, với trách nhiệm là cơ quan tổ chức thực hiện, đã nỗ lực không ngừng để việc thực thi pháp luật BHYT hiệu quả nhất, mọi người dân sớm được hưởng quyền an sinh về BHYT.

Những kết quả ấn tượng

Sau gần 6 năm triển khai Luật BHYT sửa đổi, đã có nhiều kết quả nổi bật trong tổ chức thực hiện chính sách BHYT được ghi nhận:

Thứ nhất, tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân đã đạt gần 90% dân số; đối tượng tham gia BHYT tăng nhanh qua các năm, bình quân mỗi năm tăng 48%, từ năm 2015-2019 tăng hơn 15 triệu người, đến hết năm 2019 đã có 85,636 triệu người tham gia BHYT, trong đó diện bao phủ đã tập trung vào các nhóm yếu thế như nhóm người lao động đã tham gia BHYT đạt hơn 90%; nhóm hưu trí, mất sức lao động, bảo trợ xã hội đạt 100% (khoảng 3,1 triệu người); nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ như hộ cận nghèo, học sinh, sinh viên đạt xấp xỉ 100% và trên 17,5 triệu người tham gia theo hình thức hộ gia đình.

Ông Phạm Lương Sơn, Phó tổng giám đốc BHXH Việt Nam

Như vậy, Việt Nam cơ bản đã hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân và về đích trước thời hạn so với mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 (theo thống kê từ một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, để đạt mục tiêu BHYT toàn dân nói trên phải mất từ 40-80 năm).

Với kết quả đó, mục tiêu đến năm 2025 đạt tỷ lệ tham gia BHYT đạt 95% dân số như Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới là khả thi.

Thứ hai, đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT. Nếu như năm 2014 mới có 2.111 cơ sở khám chữa bệnh ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với cơ quan BHXH, thì đến tháng 6/2020 đã tăng lên 2.571 cơ sở, tăng 22% so với năm 2014. Đáng chú ý, số cơ sở khám chữa bệnh tư nhân ký hợp đồng đã tăng gần gấp đôi, từ 424 cơ sở năm 2014 lên 835 cơ sở năm 2020.

Cơ hội tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh BHYT ngày càng mở rộng, số lượt khám chữa bệnh BHYT được quỹ BHYT thanh toán cũng tăng mạnh.

Nếu như năm 2009 mới có 92,1 triệu lượt, thì đến năm 2019 đã tăng gần 2 lần với 186 triệu lượt. Số chi khám bệnh, chữa bệnh từ quỹ BHYT cũng ngày càng tăng, từ 15.500 tỷ đồng (tương đương 970 triệu USD) năm 2009 lên hơn 100.000 tỷ đồng (tương đương khoảng 4 tỷ USD) vào năm 2019.

Thứ ba, quản lý và sử dụng quỹ BHYT an toàn, hợp lý, hiệu quả. Để đảm bảo nguồn kinh phí khám chữa bệnh BHYT được sử dụng công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ thu, chi, giải quyết chính sách, quản lý quỹ và phát triển đối tượng tham gia BHYT, từ năm 2018, BHXH Việt Nam đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định giao dự toán chi khám chữa bệnh BHYT đến từng địa phương.

Đây là biện pháp góp phần tháo gỡ vướng mắc trong bối cảnh hầu hết các tỉnh bị bội chi quỹ khám chữa bệnh BHYT do điều chỉnh giá dịch vụ y tế và mở rộng phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT.

Kết quả là năm 2018, số thu từ đối tượng tham gia BHYT đạt 93.318 tỷ đồng; tổng số thu BHYT so với kế hoạch được giao đạt 105,8%; tổng số chi khám chữa bệnh BHYT là 95.081 tỷ đồng, bằng 104,3% so với dự toán.

Năm 2019, số thu từ đối tượng tham gia BHYT ước đạt 104.807 tỷ đồng; tổng số chi khám chữa bệnh BHYT ước đạt 104.443 tỷ đồng, vẫn đảm bảo cân đối thu - chi trong năm, không phải sử dụng đến nguồn quỹ dự phòng.

Thứ tư, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tổ chức thực hiện chính sách BHYT. Từ tháng 1/2017, hệ thống Thông tin giám định BHYT chính thức được khai thác để thực hiện các quy trình của nghiệp vụ giám định BHYT.

Với việc ứng dụng hệ thống này, hầu hết các quy trình nghiệp vụ có thể tự động hóa bằng các chức năng của phần mềm, qua đó nâng cao chất lượng các nghiệp vụ, đồng thời giúp giảm hàng trăm giờ làm việc của cán bộ giám định.

Các nghiệp vụ tạm ứng, thanh quyết toán trong khám chữa bệnh BHYT của BHXH cấp tỉnh và huyện với các cơ sở y tế được thực hiện theo quy trình khép kín, liên thông và có cơ chế kiểm soát, đối chiếu giữa các phần mềm nghiệp vụ, đảm bảo minh bạch, chính xác trong quản lý tài chính.

Thứ năm, cấp mã số BHXH là số định danh cá nhân duy nhất của người tham gia do cơ quan BHXH cấp để ghi trên sổ BHXH, thẻ BHYT nhằm quản lý xuyên suốt quá trình tham gia đóng, hưởng chế độ BHXH, BHYT, làm căn cứ cấp sổ BHXH, thẻ BHYT điện tử thay thế cho thẻ BHYT chất liệu giấy.

Việc cấp một mã số BHXH duy nhất mang lại nhiều lợi ích cho cơ quan quản lý và cả người tham gia, đáp ứng yêu cầu về quản lý cơ sở dữ liệu tập trung trên toàn quốc của ngành BHXH, giúp loại bỏ được tình trạng cấp trùng thẻ, chống các hành vi sử dụng thẻ giả, lạm dụng quỹ BHYT đồng thời bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHYT.

Hướng tới phát triển bền vững

Bên cạnh những kết quả đạt được, phát triển bền vững chính sách BHYT cũng gặp nhiều thách thức trong thời gian tới như già hóa dân số, mô hình bệnh tật thay đổi..., đặc biệt là chi khám chữa bệnh BHYT không ngừng tăng lên, từ năm 2017 quỹ BHYT bắt đầu trong tình trạng chi vượt quá thu trong năm.

Để thực hiện được mục tiêu Nghị quyết 20-NQ/TW là đến năm 2025 tỷ lệ tham gia BHYT đạt 95% dân số cũng như phát triển BHYT bền vững, BHXH Việt Nam sẽ tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Một là phát triển đối tượng tham gia BHYT bền vững. Thực tế, số người dân chưa tham gia BHYT hiện nay tuy còn ít, nhưng lại là thách thức không nhỏ, bởi đó là những người không có thu nhập ổn định, thuộc thị trường lao động tự do, thường khi có bệnh mới tham gia BHYT, đi ngược lại nguyên tắc chia sẻ rủi ro của chính sách BHYT.

Hướng giải quyết đặt ra là ngành BHXH phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội và chính quyền địa phương để đề xuất những giải pháp hỗ trợ người dân tham gia BHYT, giúp những đối tượng này có những thuận lợi ban đầu khi tham gia BHYT.

Đồng thời, có những giải pháp đảm bảo tính ổn định, bền vững cho các nhóm đối tượng đã tham gia BHYT bằng cách nâng cao nhận thức của người dân, ý thức chia sẻ cộng đồng và cơ hội có nguồn tài chính vững chắc phòng khi không may mắc bệnh; tăng cường cải cách thủ tục hành chính tiến tới thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, cho phép người tham gia BHYT thanh toán lệ phí và nhận kết quả được thực hiện trực tuyến, tạo thuận lợi cho người dân khi tham gia BHYT.

Hai là quản lý, sử dụng quỹ BHYT hiệu quả, an toàn, mà vẫn đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT. Cụ thể, phối hợp chặt chẽ với ngành y tế nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh; hoàn thiện các chính sách về BHYT, xây dựng gói quyền lợi BHYT phù hợp, rà soát ưu tiên đưa vào danh mục quỹ BHYT chi trả đối với các dịch vụ y tế có tính chi phí hiệu quả cao; bảo đảm công khai và minh bạch trong quản lý, giám định và thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT.

Thay đổi phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo hướng thanh toán định suất đối với khám chữa bệnh ngoại trú và theo nhóm trường hợp bệnh (DRG) đối với khám chữa bệnh nội trú; kiểm soát chi phí thông qua việc giao dự toán chi cho các cơ sở khám chữa bệnh; đấu thầu tập trung cấp quốc gia đối với thuốc, vật tư y tế, trang thiết bị y tế.

Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ giám định đối với BHXH các tỉnh phố và các cơ sở khám chữa bệnh BHYT, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hình thức lạm dụng BHYT, cũng như các trường hợp người bệnh BHYT không được đảm bảo quyền lợi tối đa.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục