Nhiên liệu kéo chi phí leo thang
Trong quý I/2026, thị trường giá cả trong nước chứng kiến nhiều biến động đáng chú ý, phản ánh rõ tác động lan tỏa từ giá năng lượng toàn cầu đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Trong đó, xăng dầu tiếp tục là yếu tố dẫn dắt, kéo theo chi phí vận tải, sản xuất và tiêu dùng tăng theo.
Ở nhóm năng lượng, thị trường xăng dầu trong nước tương đối ổn định trong hai tháng đầu năm. Tuy nhiên, từ tháng 3/2026, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến nguồn cung gián đoạn, làm giá xăng dầu biến động mạnh.
Cơ quan quản lý đã điều hành giá bám sát diễn biến thế giới, đồng thời sử dụng Quỹ bình ổn để giảm sốc giá. Tính đến ngày 21/4/2026, giá xăng dầu đã qua 23 lần điều chỉnh, với mức tăng so với đầu năm từ 20% đến 101%, tạo áp lực đáng kể lên mặt bằng giá chung.
![]() |
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo về tổng kết công tác quản lý, điều hành giá quý I/2026, định hướng công tác điều hành giá những tháng còn lại của năm 2026 diễn ra vào sáng 23/4. Ảnh: Mạnh Tuấn. |
Cùng xu hướng, giá khí dầu mỏ hóa lỏng trong nước cũng biến động theo giá thế giới và tỷ giá. Sau khi tăng trong hai tháng đầu năm và tạm ổn định trong tháng 3, giá LPG đã tăng mạnh trở lại trong tháng 4/2026. Ngược lại, giá điện vẫn được giữ ổn định từ đầu năm, sau lần điều chỉnh tăng 4,8% vào tháng 5/2025, góp phần giảm áp lực chi phí đầu vào cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc giá nhiên liệu tăng cao đã nhanh chóng lan sang lĩnh vực vận tải. Cước vận chuyển container nội địa tăng 7-12%, cước tàu hàng rời tăng 30-45%, trong khi vận chuyển container quốc tế tăng 12-15%. Nhiều hãng tàu áp dụng thêm phụ phí chiến tranh và phụ phí nhiên liệu.
Trong lĩnh vực hàng không, giá vé nội địa cơ bản ổn định, nhưng các đường bay quốc tế đã tăng giá từ giữa tháng 3. Vận tải đường bộ tăng phổ biến 10-30%, thậm chí cao hơn tại một số địa phương, còn vận tải đường sắt biến động theo giá xăng dầu.
Không chỉ dừng lại ở vận tải, chi phí đầu vào tăng còn đẩy giá vật liệu xây dựng lên cao. Trong quý I/2026, giá xi măng tăng khoảng 8% so với cùng kỳ năm trước, giá cát xây dựng tăng tới 69%, đá xây dựng tăng khoảng 33% và nhựa đường tăng khoảng 6%. Đây là hệ quả của việc chi phí nhiên liệu, vận chuyển tăng cùng với nhu cầu xây dựng gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng lớn được triển khai đồng loạt.
Ở lĩnh vực nông nghiệp, giá gạo trong nước tương đối ổn định, nhưng giá thu mua nguyên liệu có xu hướng tăng nhẹ. Giá phân bón tăng 5-11% trong tháng 3/2026, kéo theo giá thức ăn chăn nuôi tăng do chi phí đầu vào cao. Điều này cho thấy áp lực chi phí sản xuất đang lan rộng từ công nghiệp sang nông nghiệp, tiềm ẩn nguy cơ tác động đến giá lương thực, thực phẩm trong thời gian tới.
![]() |
Xăng dầu tiếp tục là yếu tố dẫn dắt, kéo theo chi phí vận tải, sản xuất và tiêu dùng tăng theo. Ảnh minh họa. |
Thị trường bất động sản tiếp tục phân hóa. Giá căn hộ chung cư duy trì xu hướng tăng, trong khi đất nền và bất động sản nghỉ dưỡng đi ngang. Giá thuê văn phòng tăng nhẹ, còn bất động sản công nghiệp giữ ổn định với tỷ lệ lấp đầy cao, đặc biệt tại khu vực phía Nam.
Đối với các mặt hàng do Nhà nước định giá, mặt bằng giá cơ bản ổn định trong quý I/2026. Tuy nhiên, lĩnh vực y tế có thể tạo thêm áp lực khi dự kiến điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh khoảng 8,9%, làm CPI tăng khoảng 0,28% nếu được triển khai.
Linh hoạt giữ “van an toàn” cho mặt bằng giá
Bước sang các tháng còn lại của năm 2026, mặt bằng giá được dự báo tiếp tục chịu áp lực từ nhiều yếu tố. Biến động giá nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu trong bối cảnh bất ổn địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng có thể làm tăng chi phí đầu vào. Giá xăng dầu cao kéo theo chi phí vận tải tăng, từ đó lan tỏa sang giá hàng hóa và dịch vụ.
Ngoài ra, giá vật liệu xây dựng có thể tiếp tục tăng khi nhu cầu hạ tầng lớn, trong khi nguồn cung một số vật liệu còn hạn chế. Giá lương thực, thực phẩm cũng chịu sức ép khi chi phí sản xuất tăng và rủi ro an ninh lương thực toàn cầu hiện hữu. Các yếu tố như điều hành tỷ giá, thiên tai, biến đổi khí hậu hay điều chỉnh lương cơ sở cũng có thể góp phần làm gia tăng áp lực lạm phát.
![]() |
Bên cạnh đó, lộ trình điều chỉnh giá các dịch vụ do Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí cũng sẽ tác động nhất định đến chỉ số giá tiêu dùng. Dự kiến học phí năm học 2026-2027 tiếp tục tăng theo lộ trình, với mức trần giáo dục đại học tăng bình quân 12,7% và giáo dục nghề nghiệp tăng khoảng 18%.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều yếu tố hỗ trợ giúp giảm áp lực lên mặt bằng giá. Chính phủ đã chủ động điều hành giá xăng dầu thông qua Quỹ bình ổn và các biện pháp thuế, góp phần hạn chế biến động mạnh. Các chính sách giảm thuế, phí tiếp tục được triển khai, trong khi chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt nhằm kiểm soát lạm phát.
Một số dịch vụ được miễn, giảm như học phí phổ thông công lập, giá sách giáo khoa và dịch vụ hoa tiêu hàng hải cũng góp phần giảm chi phí. Đáng chú ý, nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước vẫn dồi dào, sản xuất nông nghiệp phục hồi nhanh sau thiên tai, giúp giữ ổn định giá cả.
Có thể thấy, bức tranh giá cả năm 2026 đang chịu tác động đồng thời từ cả yếu tố bên ngoài và nội tại nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, việc điều hành chính sách linh hoạt, kết hợp giữa kiểm soát chi phí đầu vào và hỗ trợ doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quyết định trong việc giữ ổn định mặt bằng giá, kiểm soát lạm phát và duy trì đà tăng trưởng kinh tế bền vững.


