Ngày 15/10, tại Hội nghị triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc miền núi giai đoạn 2026-2035 do Thủ tướng Chính phủ chủ trì, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn báo cáo những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 46/2026/QH16, Nghị định 387/2026/NĐ-CP các nội dung cần triển khai sau khi Nghị định có hiệu lực.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Chương trình có phạm vi rộng, liên quan đến nông thôn, giảm nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội.
"Việc hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình thống nhất không có nghĩa là làm lại từ đầu. Điều cốt lõi là tổ chức lại cách quản lý, điều hành và thực hiện nhằm giảm trùng lặp, giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ trách nhiệm, tăng quyền chủ động cho địa phương, chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý theo mục tiêu, các sản phẩm và kết quả đầu ra", Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh.
Trong quá trình xây dựng Nghị định, Bộ Tài chính đã tổ chức 9 vòng lấy ý kiến các bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương; tiếp thu tối đa các ý kiến hợp lý, xác đáng, đảm bảo Nghị định vừa sát chủ trương của Quốc hội, vừa phù hợp với thực tiễn. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, ngày 12 tháng 10 năm 2026, với các nội dung đã được quy định rõ để các địa phương có thể triển khai ngay.
6 định hướng lớn tại Nghị quyết số 46/2026 của Quốc hội
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nêu rõ, Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình trên cơ sở thống nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia theo 6 định hướng lớn:
Thứ nhất, một chương trình, một khung khổ pháp lý, mục tiêu, phạm vi, thời gian thực hiện và đối tượng được xác định thống nhất. Chính sách đối tượng, định hướng đầu tư đã được quyết định tiếp tục được kế thừa, chỉ loại bỏ phần trùng lặp.
Thứ hai, phân cấp mạnh cho địa phương. Trung ương giao tổng thể, địa phương quyết định cụ thể, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm.
Thứ ba, nguồn lực phân bổ tập trung, ưu tiên cho địa bàn khó khăn. Giai đoạn 2026-2030, tổng vốn thực hiện chương trình là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương là 345.000 tỷ đồng (gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên). Nguồn lực được phân bổ tập trung, tránh dàn trải, ưu tiên cho vùng còn thiếu hụt các dịch vụ cơ bản và các đối tượng cần hỗ trợ.
Thứ tư, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong sử dụng kinh phí thường xuyên. Nguồn lực chương trình dành cho mục tiêu nhiệm vụ chương trình và người thụ hưởng, không dùng để chi hoạt động thường xuyên của tổ chức bộ máy.
Thứ năm, quản lý chương trình theo kết quả đầu ra. Việc đánh giá gắn với mục tiêu, chỉ tiêu và mức cải thiện thực tế đối với người dân, không dừng ở số vốn được giải ngân.
Thứ sáu, áp dụng cơ chế đặc thù cho cấp cơ sở. Thủ tục được đơn giản hóa để người dân, cộng đồng trực tiếp tham gia đề xuất, thực hiện và giám sát. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát và khảo sát sự hài lòng của người dân.
7 nhóm nội dung cốt lõi của Nghị định 387/2026/NĐ-CP
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Nghị định gồm 54 điều, 7 chương và 14 phụ lục, cụ thể hóa 6 định hướng nêu trên thành 7 nhóm nội dung.
Thứ nhất, sắp xếp nội dung của 4 chương trình nhưng không làm giảm chính sách. Các nội dung cùng tính chất trước đây phân tán ở nhiều chương trình, nhiều đầu mối đã được sắp xếp thành 7 nhóm vấn đề, lĩnh vực. Mục tiêu, đối tượng, tiêu chuẩn, định mức chuyên ngành đã được quyết định tiếp tục được kế thừa. Nguyên tắc là: Một nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu chỉ có một đầu mối chịu trách nhiệm chính.
Thứ hai, thiết kế lại toàn bộ chu trình nguồn lực. Chu trình gồm huy động, lồng ghép, xác định mức trần 5 năm, phân bổ hằng năm và giao, điều chỉnh nguồn lực. Nguồn lực không chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước mà mở rộng sang tín dụng chính sách, huy động từ doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân. Ngân sách nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, tập trung cho các địa bàn đối tượng ưu tiên. Lồng ghép phải phân định rõ phần việc, kinh phí và kết quả của từng nguồn, không bố trí thanh toán quyết toán trùng. Trung ương giao tổng nguồn lực, địa phương quyết định danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ chi tiết và điều chỉnh.
Thứ ba, mở rộng quyền chủ động chi nhưng dựng rõ rào cản ngăn chi sai mục tiêu. Bộ, cơ quan trung ương và địa phương được chủ động phân bổ nguồn lực, điều chỉnh nhưng phải đúng mục tiêu, đối tượng, nội dung, không làm thay đổi điều kiện thụ hưởng hoặc giảm hỗ trợ trực tiếp cho người dân. Ngân sách trung ương của chương trình không chi tiền lương, phụ cấp hoạt động bộ máy, nhiệm vụ quản lý nhà nước và nội dung đã có các nguồn khác đảm bảo (ngoại việc chỉ áp dụng khi gắn trực tiếp với mục tiêu, nhiệm vụ đặc thù). Khi pháp luật chuyên ngành không bắt buộc có định mức riêng, dự toán được xác định theo khối lượng sản phẩm, kết quả đầu ra và giá cả thị trường. Thanh toán, quyết toán gắn với khối lượng sản phẩm và nghiệm thu, không yêu cầu chứng từ chi tiết cấu thành đơn giá hoặc kinh phí khoán.
Thứ tư, rút ngắn thủ tục và tăng vai trò của cấp xã và cộng đồng. Dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản trên địa bàn một xã được giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý với thủ tục đơn giản. Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% tổng mức đầu tư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn. Dự án dưới 500 triệu đồng có thể giao cho cộng đồng tự thực hiện qua Ban phát triển thôn. Hỗ trợ phát triển sản xuất được tổ chức linh hoạt theo chuỗi giá trị, cộng đồng, nhiệm vụ và cơ chế đặc thù. Riêng cơ chế theo nhiệm vụ phải dành tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người dân. Yêu cầu xuyên suốt là giảm thủ tục nhưng tăng trách nhiệm của cấp xã và cộng đồng về lựa chọn, giám sát và kết quả.
Thứ năm, chuyển tiếp theo nguyên tắc "việc đang làm không dừng, quyền lợi không gián đoạn". Một nhiệm vụ chỉ theo một cơ chế. Nhiệm vụ, dự án, hợp đồng, đối tượng thụ hưởng đã được phê duyệt trong năm 2026 trước khi Nghị định có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo cơ chế cũ cho đến khi hoàn thành. Đối với nguồn kéo dài đến hết ngày 31/12/2026 thì thực hiện theo Nghị quyết số 257/2025 và Nghị định số 358/2025. Dự toán năm 2026 giao bổ sung sau khi Nghị định có hiệu lực được lựa chọn cơ chế cũ hoặc mới nhưng chỉ áp dụng một cơ chế đến khi hoàn thành. Kế hoạch dự toán 2027 được lập, giao theo cơ chế cũ, sau khi giao việc phân bổ, sử dụng, thực hiện theo nghị định mới.
Thứ sáu, chuyển từ quản lý "đã chi bao nhiêu" sang quản lý "nguồn lực tạo ra kết quả gì". Nghị định xác lập cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối mục tiêu, chỉ tiêu, nguồn lực, đối tượng thụ hưởng, sản phẩm và kết quả. Cơ quan địa phương chịu trách nhiệm về tính chính xác, kịp thời của dữ liệu. Kết quả được chấm điểm trên thang điểm 100: Mục tiêu chuyên ngành (60 điểm), tiến độ phân bổ giải ngân (30 điểm), mức độ hài lòng của người dân (10 điểm). Việc đánh giá thực hiện theo kỳ 6 tháng hằng năm, giữa kỳ và cuối kỳ. Kết quả dùng để cảnh báo, đánh giá trách nhiệm và điều hành phân bổ ngân sách năm sau. Giải ngân là quan trọng nhưng không đồng nghĩa với hoàn thành tốt chương trình. Đây là bước chuyển từ quản lý thủ tục đầu vào sang quản lý theo mục tiêu, sản phẩm và kết quả.
Thứ bảy, một việc một đầu mối, phân cấp đi cùng với trách nhiệm giải trình. Ban chỉ đạo điều hành, điều phối chung không phải cấp phê duyệt mới. Bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm về mục tiêu, chỉ tiêu, chuyên môn, chấm điểm, xác nhận và giải trình kết quả của lĩnh vực. Địa phương chịu trách nhiệm về danh mục, tiến độ giải ngân và kết quả trên địa bàn. Mô hình này giảm tầng nấc trung gian nhưng tăng trách nhiệm giải trình của chủ thể được giao nhiệm vụ.
3 nhóm nhiệm vụ cần làm ngay
Để cơ chế sớm trở thành kết quả thực tế, Bộ trưởng Bộ Tài chính đề nghị các đơn vị, cơ quan bộ ngành trung ương và địa phương cần tập trung vào 3 nhóm nhiệm vụ.
Thứ nhất, xử lý dứt điểm nhiệm vụ chuyển tiếp, đưa chương trình mới vào vận hành đồng bộ từ năm 2027. Trong 90 ngày làm việc kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, rà soát, phân loại toàn bộ nhiệm vụ, dự án, kế hoạch vốn, dự toán, hợp đồng, đối tượng thụ hưởng và danh mục đầu tư công trung hạn. Điều chỉnh nhiệm vụ không còn phù hợp, chưa đủ điều kiện hoặc hiệu quả thấp. Các địa phương rà soát văn bản triển khai của từng chương trình trước hợp nhất để sửa đổi, thay thế hoặc bãi bỏ, tránh duy trì nhiều lớp quy định song song. Chuẩn bị sớm danh mục thứ tự ưu tiên, nhu cầu vốn để phân bổ chi tiết dự toán năm 2027 ngay sau khi được giao. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sớm ban hành nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ và mức vốn đối ứng theo cơ chế mới. Không đưa vào kế hoạch nhiệm vụ chưa rõ đối tượng, khối lượng hoặc không có khả năng hoàn thành. Tốc độ phân quyền phải chủ động quyết định, không chờ hướng dẫn đối với vấn đề đã được quy định rõ. Gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ giải ngân và kết quả. Các bộ quản lý ngành (Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính...) và địa phương thường xuyên theo dõi, nhận diện sớm nội dung chậm triển khai, giải ngân thấp, vướng mắc về cơ chế định mức để xử lý ngay. Vấn đề liên ngành phải có phương án cụ thể, không để việc xin ý kiến kéo dài làm chậm tiến độ chung.
Thứ hai, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và công cụ đánh giá để quản lý, chấm điểm, điều hành trên cùng một hệ thống. Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương hoàn thiện cơ sở dữ liệu, phân quyền cập nhật công cụ báo cáo và chấm điểm, đảm bảo kết nối với dữ liệu chuyên ngành. Bộ Tài chính hoàn thiện phân hệ dữ liệu các chương trình mục tiêu quốc gia trong cơ sở dữ liệu về ngân sách nhà nước để khai thác trực tiếp dữ liệu phân bổ và giải ngân. Dữ liệu tối thiểu phải phản ánh phân bổ điều chỉnh nguồn lực, tiến độ giải ngân, đối tượng thụ hưởng, sản phẩm, kết quả đầu ra. Xác định rõ cơ quan cập nhật, cơ quan xác nhận. Trước ngày 31/12/2026, các bộ quản lý ngành ban hành bộ chỉ số đo lường đối với tiêu chí thành phần, xác định rõ phương pháp, nguồn dữ liệu, cơ quan xác nhận. Dữ liệu không chỉ để báo cáo mà phải trở thành công cụ điều hành. Nhiệm vụ chậm triển khai, kết quả không đạt yêu cầu phải được cảnh báo sớm để xử lý.
Thứ ba, rà soát căn cứ chuyên môn, kỹ thuật, xử lý nhanh vướng mắc, không để hình thành điểm nghẽn về hướng dẫn mới. Các bộ quản lý ngành rà soát tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, quy định hiện hành nếu còn phù hợp thì tiếp tục được áp dụng, chỉ xử lý những phần còn thiếu, không chờ phải ban hành mới toàn bộ.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì rà soát Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về văn hóa để đề xuất hợp nhất các tiêu chí có liên quan, bảo đảm một kết quả đầu ra chỉ được đánh giá tại một nhóm tiêu chí. Tài liệu hướng dẫn, sổ tay điện tử chỉ để làm rõ quy trình, không làm thêm thủ tục hồ sơ hoặc yêu cầu xin ý kiến ngoài quy định. Ưu tiên cập nhật tài liệu hiện có, không xây dựng trùng lắp giữa các cơ quan, các cấp. Thiết lập cơ chế đường dây nóng bộ quản lý ngành xử lý vướng mắc chuyên ngành. Bộ Nông nghiệp và Môi trường điều phối vấn đề liên ngành; Bộ Tài chính xử lý cơ chế tài chính ngân sách; Bộ Xây dựng hướng dẫn dự án đầu tư xây dựng đặc thù. Vấn đề vượt thẩm quyền phải báo cáo kèm theo phương án xử lý, tránh chuyển lòng vòng văn bản.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, khung khổ mới trao quyền nhiều hơn cho địa phương nhưng đòi hỏi trách nhiệm cao hơn, đơn giản hóa thủ tục nhưng kỷ luật tài chính phải chặt chẽ hơn. Từ đó, Bộ trưởng đề nghị các bộ, ngành, địa phương quán triệt tinh thần "3 KHÔNG": Không chờ đợi khi đã rõ thẩm quyền và cơ chế; Không đẩy trách nhiệm việc thuộc thẩm quyền của cấp nào thì phải xử lý ở cấp đó; Không đánh giá chương trình chỉ bằng số vốn đã giải ngân mà bằng kết quả thực chất đối với người dân.
Bộ trưởng cho biết, căn cứ kết quả hội nghị hôm nay, Bộ Tài chính sẽ tham mưu báo cáo Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong thực hiện chương trình. Chỉ thị tập trung vào 3 nhóm nhiệm vụ nêu trên: Tổ chức đồng bộ với việc chuyển tiếp và triển khai chương trình mới tại các cấp; Hoàn thiện cơ sở dữ liệu và phương thức đánh giá kết quả đầu ra; Rà soát hoàn thiện căn cứ chuyên môn kỹ thuật và xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh. Qua đó, đảm bảo chương trình được triển khai liên tục, thống nhất và chuyển mạnh sang quản lý theo kết quả đầu ra.